Đánh thức các làng nghề Hồ Tây

Xã hội - Ngày đăng : 07:31, 07/09/2009

(HNM) - Thăng Long - Hà Nội có mấy kiểu “quy hoạch” cổ truyền. “Tam trùng thành quách” gồm ba vòng thành đồng tâm, trong cùng là cấm thành, giữa là hoàng thành, ngoài cùng là la thành. Kiểu “thành thị” (đô + thị) có một “thị” - kinh tế, bao quanh một “thành” chính trị.

Nghề trồng hoa truyền thống ở làng Nghi Tàm, quận Tây Hồ. Ảnh: Viết Thành

(HNM) - Thăng Long - Hà Nội có mấy kiểu “quy hoạch” cổ truyền. “Tam trùng thành quách” gồm ba vòng thành đồng tâm, trong cùng là cấm thành, giữa là hoàng thành, ngoài cùng là la thành. Kiểu “thành thị” (đô + thị) có một “thị” - kinh tế, bao quanh một “thành” chính trị.

Hay theo “cơ cấu”, Đông - Bắc là khu công - thương - dịch vụ, Tây - Nam là khu nông nghiệp có “xâm canh” những công trình văn hóa, ở giữa là khu hành chính - chính trị… Dù là nơi, kiểu quy hoạch nào, thì vùng Hồ Tây cũng nổi nét là một khu vực kinh tế thủ công nghiệp cổ truyền.

Người vùng Tây Hồ, nói về nghề thủ công nổi tiếng hàng đầu, ngày xưa, trên quê mình đều tin rằng từ thế kỷ thứ tám, thứ chín đã có một ông Tổ nghề giấy (không biết từ đâu tới) đầu tiên xuất hiện ở vùng Cầu Giấy (làng Thượng Yên Quyết) nhưng gặp nhiều chuyện không vừa ý, nên chỉ dạy cho dân làng Cót (Hạ Yên Quyết) cách dùng những đầu mẩu vỏ đỗ, làm ra giấy thô. Liền đó ông Tổ đến làng An Thái (Bưởi - tên tục làng Giấy) dạy cách làm giấy lệnh, sang Nghĩa Đô (làng Nghè) dạy làm giấy sắc, sang Hồ Khẩu dạy làm giấy moi, đến Đông Xã dạy làm giấy quỳ… Các làng vùng Bưởi ven hồ hằng năm, cứ đến ngày 16 tháng Ba (âm lịch) đều mở hội cúng Tổ nghề.

Điều chắc chắn là từ khi định đô Thăng Long (thế kỷ XI) thì nhiều nghề thủ công đã ra đời và phồn thịnh ở vùng Hồ Tây.

Ngoài việc đề xuất nhu cầu và do đó, kích thích yếu tố cung cấp của khu vực Hồ Tây, hoàng thành (và cấm thành) kề cận còn trực tiếp tác động bằng nhiều cách (cử “phái viên” đến làm hạt nhân phát triển, thiết lập các “cơ sở tại chỗ” của mình…) đến khu vực kinh tế Hồ Tây. Công chúa Từ Hoa đời Lý ra lập cung Thúy Hoa (sau trở thành chùa Kim Liên nổi tiếng) để trồng dâu chăn tằm, dệt lụa là gấm vóc Nghi Tàm. Phường Toán (Toại) Viên chuyên trồng tỏi ở bờ Nam hình thành là do quyết định của vua Trần Dụ Tông (1362). Làng Trích Sài có nghề dệt lĩnh nổi tiếng là nhờ vua Lê Thánh Tông phái “Bà chúa dệt lĩnh” Phan Thị Ngọc Đô, gốc Chiêm Thành, đến đây gây dựng cơ sở đầu tiên, với Thiên Niên trang - sau thành chùa Thiên Niên… Đó là một vài trong rất nhiều thí dụ dễ dàng tìm thấy ở khu vực này.

Khu vực “thị” của kinh thành, trong suốt nhiều thế kỷ (ngày nay, còn hạt nhân là “khu phố cổ”) vừa ở sát ngay phía Đông - Nam khu vực Hồ Tây, vừa có sông Tô Lịch và sông Hồng trực tiếp thông thương, chính là một thị trường lớn, với chất lượng cao, có ý nghĩa kinh tế rất lớn đối với việc sản xuất cung ứng và tiêu thụ của khu vực Hồ Tây. Vì thế, cho đến thế kỷ XVIII, qua “Tụng Tây Hồ phú” và các tài liệu khác, đã thống kê được hơn 10 nghề thủ công cổ truyền, đặc trưng, tập trung quanh Hồ Tây, làm nên diện mạo truyền thống đặc sắc.

Những nghề và làng nghề thủ công quanh Hồ Tây đầu tiên, đại trà, vẫn là những thực thể gắn bó với nông nghiệp. Phía Tây bắc, làng Cáo Đỉnh, còn gọi Kẻ Giàn, có di tích kho thóc lúa của triều đình và bây giờ vẫn là nơi có “hồng xiêm Xuân Đỉnh” nổi tiếng. Làng Trích Sài với nguyên nghĩa “Hái (Nhặt) Củi” của nó, ở phía Đông bắc có nghề bẻ, chặt củi cành từ những rừng cây ngày xưa mọc rậm rạp quanh hồ, có cả hổ, voi rừng về sinh sống để tiêu dùng và đem bán cho dân kinh thành. Phường Toán (Toại) Viên, bờ Nam trồng tỏi, sản xuất cây trồng đặc sản. Làng Võng Thị là một làng chài cá. Những làng hoa Yên Phụ (tên cũ là Yên Hòa), Nghi Tàm, Nhật Tân… mạn Đông, làng hoa Ngọc Hà và cả làng cây thuốc Đại Yên (vùng “thập tam trại”) ở mạn Tây, tiêu biểu nhất cho vùng cảnh quan - ngành nghề “làng lúa - làng hoa” ven Hồ Tây, cũng thuộc loại làng nghề gắn bó với nông nghiệp, có vai trò và tác dụng như là dấu nối giữa những làng nghề thủ công đích thực và những làng nông nghiệp, ở khu vực kinh tế ven hồ. Hai sinh vật đặc sắc của Hồ Tây là cá chép và sâm cầm, có vai trò và tác dụng hỗ trợ cho việc hình thành nghề và làng nghề, như một loại hình kinh tế đặc trưng của vùng này.

Cuối cùng, làng Thụy, chính là làng Thụy Chương với nghề dệt vải và lụa đã trở thành phường Thụy Chương (sau đổi thành Thụy Khuê) - ở bờ Nam nổi tiếng với nghề nấu rượu, có tượng “Phật say” được kể trong danh mục 8 cảnh đẹp Hồ Tây, đã hoàn chỉnh danh mục các làng nghề ven hồ, với tư cách: từ chỗ là những làng nghề gắn bó với nông nghiệp chuyển thành những làng nghề thủ công đích thực. Chúng làm nên vẻ đặc sắc của khu vực kinh tế ven Hồ Tây cổ truyền.

Những làng giấy vùng Bưởi dùng nguyên liệu cây dó từ rừng núi Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, vận chuyển theo sông Hồng, sông Lô về thẳng đây. Trải qua nhiều trăm năm hành nghề, nhiều kỹ thuật và thành tựu đặc biệt đã phát triển được và tích lũy lại, như “giấy sắc” Nghĩa Đô để viết bằng, sắc của triều đình. Sau nhiều công đoạn công phu, tạo nên tờ giấy khổ lớn, trước khi tô vẽ rồng mây, nó còn phải “nghè” (ghè) - dùng vồ đập vào giấy đặt trên đá cho giấy thật mịn và chắc! Ngày nay, sau hai ba trăm năm ta còn gặp lại những sản phẩm này ở các ngôi đền cổ và phải kinh ngạc, quý trọng vì sự bền đẹp của chúng. Cách bờ hồ không xa, bên sông Tô Lịch, chợ Bưởi xưa có 15 gian để tồn trữ và kinh doanh “giấy Bưởi”.

Nghi Tàm có nghề trồng dâu nuôi tằm lâu đời, tiêu biểu là mặt hàng lĩnh, gọi chung là “lĩnh Bưởi”. Váy lĩnh, ước mong của bao thế hệ phụ nữ xưa, càng có giá trị nếu là hàng Bưởi. Chợ Bưởi sầm uất trên bờ sông Tô, ven Hồ Tây, cũng chính là một trung tâm buôn bán lĩnh Bưởi.

“Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng” chính là thứ “Trúc Bạch” do những bàn tay cung nữ ở phủ chúa Trịnh ra vùng Hồ Tây dệt nên và để lại địa danh cho vùng hồ Trúc Bạch, được ngăn ra khỏi Hồ Tây từ thế kỷ XVII.

Làng nghề đúc đồng phải kể đến Ngũ Xã và nghề đúc đồng truyền thống từ 5 xã thuộc tổng Đề Kiền, trấn Kinh Bắc, tới bán đảo Ngũ Xã bên hồ Trúc Bạch, lập ra Ngũ Xã tràng, hành nghề từ thế kỷ XVII. Kỹ thuật đúc đồng từ đây đã đạt đến trình độ tinh xảo, như pho tượng đồng Huyền Thiên Trấn Vũ đặt ở đền Quán Thánh, đúc năm 1677. Từ đây lại cung cấp sản phẩm cho phố Hàng Đồng, nghĩa là nối vào dòng chảy kinh tế đến vùng nội đô.

Bây giờ, trải qua bao biến động, hầu hết những ngành nghề và làng nghề thủ công nghiệp cổ truyền ở vùng kinh tế truyền thống quanh và ven Hồ Tây đã lụi tàn hoặc mất hẳn. Khu vực kinh tế thủ công nghiệp vùng này đã chuyển đổi tính chất theo xu thế thời đại sang du lịch. Nhưng, du lịch có đối kháng với sự tồn tại, thậm chí sự thịnh vượng của kinh tế thủ công nghiệp cổ truyền tại đây không?

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Nghi Tàm, từ hoa sang cây cảnh, cho thấy ít nhất hai điều: một là sức sống và sự năng động (thích nghi - thích ứng) của một ngành nghề và làng nghề thủ công nghiệp (đặc thù) cổ truyền và hai là khả năng phối hợp phục vụ kinh tế du lịch (mới) của ngành nghề và làng nghề thủ công (cũ) ở đây. Từ thí dụNghi Tàm, có thể tính đến việc đánh thức nhiều ngành nghề và làng nghề thủ công (cũ) ở đây, trong bước chuyển đổi phát triển kinh tế sang du lịch. Có thể không cần tính toán đến giá trị kinh tế của những mặt hàng thủ công nghiệp nổi tiếng một thời, nổi tiếng nhiều đời trong đời sống kinh tế nói chung nữa, vì đó là hiển nhiên. Nhưng rất cần biết thêm đến giá trị bảo tàng, tức giá trị văn hóa. Biến một số làng nghề và nghề ở đây thành một hình thức “bảo tàng sống” (trình bày theo cung cách bảo tàng học, chẳng hạn việc sản xuất “giấy sắc” cổ truyền, lĩnh, gấm… cổ truyền, cả những sản phẩm đúc cổ truyền nữa), chắc chắn sẽ là một tiêu điểm hấp dẫn thu hút và tăng cường chất lượng du lịch. Ấy là chưa kể đến những sản phẩm cổ truyền vừa được tạo ra trong đời sống du lịch, biến thành vật lưu niệm - hàng hóa - dịch vụ -một nội dung quan trọng của kinh tế du lịch hiện đại.

Hiểu biết kỹ lưỡng khu vực kinh tế thủ công nghiệp và các làng nghề cổ truyền vùng Hồ Tây, chắc chắn sẽ có những gợi ý - dẫn liệu bổ ích và quan trọng đối với việc tổ chức và phát triển du lịch và văn hóa nơi này.

Nguyễn Doãn Tuân

- - - - - - -

Về cuộc thi viết “Cả nước hướng tới 1000 năm Thăng Long - Hà Nội”

Cuộc thi còn hai chu kỳ chấm giải vào tháng 10-2009 và 2010, với 1 giải nhất 10 triệu đồng, 2 giải nhì mỗi giải 5 triệu đồng, 3 giải ba mỗi giải 3 triệu đồng, 10 giải khuyến khích mỗi giải 1 triệu đồng. Chủ đề: Truyền thống Thăng Long - Hà Nội, kỷ niệm sâu sắc qua các thời kỳ, khuyến khích giai đoạn hiện tại, với những con người, sự kiện mới tiêu biểu cho sự nghiệp CNH-HĐH. Để nâng cao chất lượng, BTC quyết định điều chỉnh dung lượng bài dự thi: dài nhất được 2 kỳ, mỗi kỳ 2.000 từ; dùng cả những bài nêu vấn đề nhưng có hệ thống, không sa vào vụ việc cụ thể.

Địa chỉ thư điện tử: [email protected].vn Phông chữ VnArial. Rất mong sự hưởng ứng của bạn viết xa gần.

BTC

ANHTHU