Hóa giải áp lực môi trường từ làn sóng chăn nuôi quy mô lớn
Chiếm 37% tổng đàn bò và gần 1/5 đàn lợn cả nước, Nam Trung Bộ – Tây Nguyên đang trở thành vùng trọng điểm chăn nuôi. Tuy nhiên, tốc độ mở rộng quy mô đàn cũng kéo theo áp lực lớn về xử lý chất thải, bảo vệ nguồn nước, đòi hỏi ngành chăn nuôi chuyển mạnh sang mô hình xanh, tuần hoàn và bền vững.
Phát triển chăn nuôi quy mô lớn, gia tăng sức ép môi trường
Với lợi thế về quỹ đất, điều kiện sinh thái đa dạng và nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, Nam Trung Bộ – Tây Nguyên đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ cao.
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi và Thú y, toàn khu vực hiện có khoảng 468 trang trại chăn nuôi quy mô lớn. Thống kê năm 2025 cho thấy, tổng đàn bò tại sáu tỉnh, thành phố trong vùng đạt khoảng 2,2 triệu con, chiếm 37% tổng đàn bò cả nước; đàn lợn đạt khoảng 5 triệu con, tương đương 19% tổng đàn lợn toàn quốc. Đáng chú ý, Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng liên tục nằm trong nhóm 10 địa phương dẫn đầu cả nước về quy mô đàn lợn.

Những con số trên cho thấy vị thế ngày càng quan trọng của khu vực trong ngành chăn nuôi cả nước. Không chỉ đóng góp nguồn cung thực phẩm, lĩnh vực này còn tạo việc làm, thúc đẩy công nghiệp chế biến, dịch vụ hậu cần và mở rộng liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp với người dân.
Đắk Lắk là một trong những địa phương thể hiện rõ xu hướng phát triển đó. Toàn tỉnh đã thu hút 66 dự án chăn nuôi được cấp phép đầu tư, trong đó 30 dự án đi vào vận hành ổn định, với tổng diện tích hơn 1.354ha và vốn đăng ký trên 4.034 tỷ đồng.
Đặc thù của chăn nuôi tập trung là lượng chất thải phát sinh lớn và liên tục. Nếu không được thu gom, xử lý đúng quy trình, chất thải rắn, nước thải và khí thải có thể gây ô nhiễm đất, nguồn nước mặt, nước ngầm và không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt, tại những khu vực có mật độ trang trại cao, nguy cơ phát sinh mùi hôi, tác động đến đời sống dân sinh càng cần được quan tâm.
Bên cạnh đó, mở rộng quy mô đàn kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn. Nếu khai thác và sử dụng thiếu kiểm soát, nhất là tại những khu vực có nguồn nước hạn chế theo mùa, hoạt động chăn nuôi sẽ tạo thêm sức ép lên tài nguyên nước địa phương.
Thực tế này cho thấy, hiệu quả phát triển chăn nuôi không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng đàn vật nuôi, vốn đầu tư hay sản lượng hàng hóa. Năng lực xử lý chất thải, khả năng tiết kiệm tài nguyên và mức độ an toàn đối với môi trường phải trở thành những tiêu chí quan trọng trong quy hoạch, lựa chọn và đánh giá hiệu quả các dự án.

Chuyển đổi sang chăn nuôi xanh, tuần hoàn
Trước yêu cầu phát triển mới, vấn đề đặt ra đối với Nam Trung Bộ – Tây Nguyên không phải là hạn chế đầu tư vào chăn nuôi quy mô lớn, mà là tổ chức lại không gian sản xuất, lựa chọn công nghệ phù hợp và kiểm soát chặt chẽ tác động môi trường ngay từ đầu.
Ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, giai đoạn 2026-2030, gắn với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và Chương trình hành động số 02-CTr/TU, Đắk Lắk đứng trước những cơ hội phát triển mới. Sự liên kết sinh thái giữa khu vực cao nguyên với duyên hải mở ra dư địa quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung, gắn với công nghiệp chế biến sâu, logistics và xuất khẩu.
Theo lãnh đạo tỉnh, định hướng phát triển phải nhất quán với quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Các dự án chăn nuôi phải song hành với yêu cầu bảo đảm an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh, quản lý chất thải và nâng cao sinh kế bền vững cho người dân. Tỉnh Đắk Lắk cam kết tiếp thu các khuyến nghị tại diễn đàn để cụ thể hóa vào Đề án phát triển chăn nuôi giai đoạn tới, đồng thời tiếp tục đồng hành, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư bền vững.
Một trong những giải pháp trọng tâm là thúc đẩy kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi. Theo đó, chất thải không chỉ được xem là sản phẩm phụ cần xử lý mà còn có thể trở thành nguồn nguyên liệu đầu vào cho các hoạt động sản xuất khác nếu được phân loại, thu gom và xử lý đúng kỹ thuật. Việc tận dụng phụ phẩm, tái sử dụng nước thải sau xử lý và khai thác các sản phẩm có ích từ chất thải sẽ góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm chi phí sản xuất và hạn chế ô nhiễm.

Ông Nguyễn Thành Yên, Phó trưởng phòng Chính sách - Pháp chế (Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, hiệu quả xử lý phải được kiểm chứng qua quá trình vận hành thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào công suất thiết kế hay hồ sơ công nghệ của dự án.
Đơn cử, việc tái sử dụng nước thải sau xử lý để tưới cây trồng cần được kiểm soát nghiêm ngặt theo các chỉ số an toàn, diện tích tiếp nhận và đặc điểm thời tiết từng mùa. Nếu sử dụng vượt khả năng hấp thụ của đất hoặc không bảo đảm chất lượng, hoạt động này có thể dẫn đến quá tải thổ nhưỡng, thậm chí làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Do đó, các trang trại cần xây dựng quy trình quản lý chất thải phù hợp với quy mô đàn, điều kiện thực tế; thường xuyên kiểm tra, giám sát hệ thống xử lý, bảo đảm công trình môi trường được vận hành liên tục và đúng quy định. Cùng với trách nhiệm của doanh nghiệp, công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước cần được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm.
Về lâu dài, quy hoạch vùng chăn nuôi cần tính đến khả năng đáp ứng của hạ tầng cấp, thoát nước, xử lý chất thải và sức chịu tải của môi trường. Doanh nghiệp phải xác định đầu tư cho bảo vệ môi trường là một phần không thể thiếu của hoạt động sản xuất, trong khi cơ quan quản lý cần hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tín dụng xanh, đơn giản hóa thủ tục nhưng không hạ thấp các tiêu chuẩn môi trường.
Với lợi thế về quy mô đàn vật nuôi, quỹ đất và điều kiện phát triển chuỗi sản xuất, Nam Trung Bộ – Tây Nguyên có nhiều cơ hội trở thành vùng chăn nuôi hàng hóa hiện đại, có sức cạnh tranh cao. Song, tăng trưởng chỉ thực sự bền vững khi đi đôi với bảo vệ tài nguyên, kiểm soát ô nhiễm và bảo đảm môi trường sống cho cộng đồng. Chuyển đổi sang chăn nuôi xanh, tuần hoàn vì thế không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với ngành chăn nuôi trong giai đoạn mới.
Ánh Tuyết - Phương Đông