Anh chờ chút nắng mang hong...
Tết đến qua đi chuyện quẩn quanh/ Vuông tròn lên xuống lợi cùng danh”. Đây là 2 câu thơ trích từ bài “Tết đến rồi” trong tập thơ mới xuất bản mang tên “Mộng trăm năm - trọn một chữ thương” (Nhà xuất bản Văn học) của nhà thơ Nguyễn Sỹ Bình. Những câu thơ có giọng điệu lạ, pha chút ngẫm nghĩ trước sự tuần hoàn của đời sống nhân tình thế thái.
Thời gian cứ trôi, còn chuyện đời dường như vẫn thế. Cái mới của năm tháng không làm nên cái mới của lòng người. Câu thứ hai đẩy ý thơ vào một tầng nghĩa sâu hơn. “Vuông tròn”, “lên xuống” vốn là những trạng thái, những biến động của cuộc đời mang giá trị thường hằng. Nhưng tất cả rồi cũng quy về hai chữ “lợi” và “danh”. Người ta xoay xở, co duỗi, lúc thăng lúc trầm, nhưng đích đến nhiều khi vẫn chỉ là danh và lợi. Cách đặt “lợi cùng danh” ở cuối câu tạo cảm giác như một lời tổng kết, đồng thời cũng là một tiếng thở dài. Cái hay ở đây là tác giả không trực tiếp phê phán ai, chỉ đặt ra một vòng luẩn quẩn để người đọc tự nhận diện, tự suy ngẫm.

Bốn câu: “Ráng xuân như mây khói/ Giăng mắc mờ phố hoa/ Mưa bụi như sương sa/ Nhẹ rơi trên cây lá” trong “Phố xuân” vẽ nên một phố xuân rất nhẹ, rất mờ, thấm đẫm chất thơ. Đây không phải là bức tranh xuân rực rỡ sắc màu, mà là một bức tranh có phần bí ẩn được nhìn qua màn sương khói, mưa bụi và những rung động tinh tế của thiên nhiên. Điều tôi thích ở bốn câu thơ này là nghệ thuật tạo không khí hơn là miêu tả cảnh vật. Không có tiếng chim, không có nắng vàng, không có những sắc màu rực rỡ, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được xuân đang hiện hữu. Đó là một mùa xuân của sự giao hòa giữa thực và ảo, giữa mưa và sương, giữa cảnh vật và cảm giác.
“Anh chờ chút nắng mang hong/ Bao tương tư quấn tơ lòng bấy lâu” (“Tương tư 1”) và "Chạng vạng trời chiều em ngang đây/ Nhập nhòa tia nắng vương cỏ cây/ Mây sà sau núi chung đôi bóng/ Gió nhẹ bồng bềnh nâng tóc bay" (“Tương tư 2”). Hai đoạn thơ cùng viết về tình yêu và nỗi tương tư, nhưng cách cảm, cách biểu hiện có sự khác biệt khá rõ: Hai câu đầu nghiêng về thế giới nội tâm, còn bốn câu sau nghiêng về ngoại cảnh, lấy thiên nhiên để chuyên chở cảm xúc. Ở đây có một cách nói tương tư khá có duyên, bởi tác giả không trực tiếp than thở về nỗi nhớ mà tìm đến một hình ảnh ẩn dụ và để thực ảo đan cài: Nắng để hong tương tư. Cách liên tưởng ấy tạo nên một sự chuyển đổi cảm giác thật thú vị... Theo tôi, sự khác biệt quan trọng nhất nằm ở chỗ: Hai câu đầu có một phát hiện về tình yêu, còn bốn câu sau có một cách diễn tả vẻ đẹp của tình yêu. Mà trong thơ, đôi khi một phát hiện nhỏ, một liên tưởng bất ngờ lại có sức neo giữ người đọc lâu hơn cả một bức tranh đẹp.
Đấy là những chi tiết thơ đáng nhớ và những khoảnh khắc bừng rộ có màu sắc của tình cảm và tâm trạng, cho thấy một chữ thương trong Nguyễn Sỹ Bình mới da diết và nặng lòng làm sao! Điều đó cũng dễ giải thích khi từ năm 2022 đến nay, tên các tập thơ của ông đều thuộc về phạm trù thương nhớ, yêu thương: “Bốn mùa thương nhớ”, “Còn lại yêu thương”, “Thương chi lạ” và “Mộng trăm năm - trọn một chữ thương”.
Đọc “Mộng trăm năm - trọn một chữ thương”, tự nhiên tôi nhớ một câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Du Tử Lê: “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời”. Đây là một câu thơ ít chữ mà mở ra một miền tình cảm vô hạn, đọc lên thấy thấm thía, nhớ lâu. Một câu thơ có cái tĩnh của sự chấp nhận, cái sâu của tình yêu và cả bóng dáng của một nỗi cô đơn đẹp. Và hẳn trải qua chiêm nghiệm cả đời, tác giả mới ngộ ra một điều giản dị và sâu sắc như vậy.
Đặng Huy Giang