VNPT và UBND Quảng Trị sau hơn một năm hợp tác: Từ kết quả chuyển đổi số đến những bài toán phát triển mới
Sau một năm hợp tác, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và UBND tỉnh Quảng Trị đã đưa nhiều nền tảng số vào hoạt động, phục vụ vận hành chính quyền hai cấp và các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Trên nền tảng đó, hai bên hướng tới giai đoạn hợp tác mới, tập trung khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và giải quyết những bài toán phát triển của địa phương.
Những kết quả từ thực tiễn
Thỏa thuận hợp tác chiến lược giữa UBND tỉnh Quảng Trị và Tập đoàn VNPT được ký ngày 29-10-2025 tập trung vào 4 trụ cột: Hạ tầng số, chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Năm đầu tiên triển khai cũng là thời điểm Quảng Trị vận hành bộ máy sau hợp nhất theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Yêu cầu đặt ra là bảo đảm các hệ thống số hoạt động thông suốt trên địa bàn rộng hơn, đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành và phục vụ người dân.
Trong bối cảnh đó, VNPT đã bảo đảm kết nối mạng truyền số liệu chuyên dùng và hệ thống hội nghị truyền hình đến 100% UBND, Đảng ủy của 78 xã, phường, đặc khu với 189 điểm cầu. Hạ tầng viễn thông gồm 1.339 trạm 4G, 56 trạm 5G; hệ thống điện toán đám mây phục vụ giải quyết thủ tục hành chính được mở rộng để đáp ứng quy mô quản lý của tỉnh sau hợp nhất.
Về chính quyền số, hệ thống Quản lý văn bản và điều hành VNPT iOffice vận hành thống nhất toàn tỉnh, liên thông 3 cấp từ Trung ương đến xã từ đầu năm 2026, phục vụ 145 cơ quan, đơn vị với gần 20.000 tài khoản. Đến ngày 30-10-2026, 94,5% văn bản được xử lý toàn trình trên môi trường điện tử; 100% đơn vị xử lý, ban hành văn bản trên hệ thống.
Song song đó, 69 kiosk dịch vụ công tại 68 xã, phường, đặc khu hỗ trợ tra cứu thủ tục bằng mã QR và hiển thị đa ngôn ngữ (có tiếng Bru-Vân Kiều). Hệ thống quản lý cán bộ, công chức, viên chức được triển khai cho 100% cán bộ, công chức, viên chức và lao động hợp đồng với hơn 45.000 tài khoản; đã đồng bộ 45.934/45.934 hồ sơ (đạt 100%) lên Cơ sở dữ liệu quốc gia của Bộ Nội vụ. VNPT Quảng Trị cũng triển khai phần mềm chấm điểm chỉ số cải cách hành chính để khảo sát, đánh giá vào cuối năm 2026.
Trong kinh tế và đời sống, tỉnh có khoảng 8.382 đơn vị sử dụng hóa đơn điện tử VNPT. Về giáo dục, 314/443 trường học sử dụng vnEdu, 307 trường triển khai học bạ số. Về y tế, giải pháp số VNPT áp dụng tại 20/29 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và toàn bộ 78 trạm y tế. Ngoài ra, AI bước đầu đưa vào cơ quan nhà nước qua trợ lý tri thức VNPT iKnow tại 10 đơn vị với hơn 1.000 tài khoản.
Sau một năm, các nền tảng số đã đi vào quy trình làm việc thực tế, tạo tiền đề chuyển trọng tâm sang khai thác hiệu quả dữ liệu và công nghệ.
Tại hội nghị, đồng chí Bùi Hoàng Phương, Chủ tịch UBND tỉnh, đánh giá cao sự đồng hành của VNPT, đồng thời nhấn mạnh giai đoạn 2027-2030, hợp tác phải bám sát thực tiễn, có sản phẩm và hiệu quả đo lường cụ thể. Trong đó, ưu tiên nâng cấp Trung tâm IOC, Trung tâm dữ liệu điện tử tỉnh; chuẩn hóa, kết nối dữ liệu chuyên ngành; nâng cao hiệu quả nền tảng số dùng chung, hỗ trợ chuyển đổi số cấp xã, thử nghiệm ứng dụng AI; bố trí đầu mối, chuyên gia phối hợp triển khai các nhiệm vụ, bảo đảm chất lượng và an toàn hệ thống.
Triển khai quản trị bằng dữ liệu và AI
Trên nền tảng đã hình thành, VNPT đề xuất định hướng hợp tác giai đoạn 2026-2030 theo hướng không chỉ mở rộng ứng dụng số mà còn tập trung khai thác dữ liệu, nâng cao năng lực điều hành và giải quyết các nhu cầu đặc thù của Quảng Trị.

Bốn nhóm trọng tâm được VNPT xác định gồm: Phát triển chính quyền dựa trên dữ liệu và điều hành thông minh; chuyển đổi số cấp xã; kinh tế số gắn với lợi thế địa phương; và nền tảng AI dùng chung phục vụ chính quyền, doanh nghiệp, người dân.
Một ưu tiên là nâng cấp Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC), gắn với xây dựng kho dữ liệu dùng chung và kết nối dữ liệu chuyên ngành. Mục tiêu là chuyển từ tổng hợp, hiển thị thông tin sang phân tích, dự báo, cảnh báo sớm và hỗ trợ ra quyết định, nhất là trong quản lý kinh tế - xã hội, môi trường và phòng, chống thiên tai.
Ở cấp cơ sở, VNPT đề xuất hệ sinh thái chuyển đổi số cho 78 xã, phường, đặc khu, tích hợp hạ tầng, dữ liệu, ứng dụng nghiệp vụ và các kênh tương tác với người dân. Đây là hướng tiếp cận nhằm đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền hai cấp, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ công.
AI tiếp tục là điểm nhấn trong đề xuất hợp tác. Thay vì phát triển các ứng dụng riêng lẻ, VNPT hướng tới nền tảng AI dùng chung, hỗ trợ cán bộ xử lý thông tin, người dân thực hiện thủ tục hành chính và lãnh đạo khai thác dữ liệu phục vụ điều hành. Việc tích hợp trợ lý tri thức vào hệ thống quản lý văn bản cũng được nghiên cứu để đưa AI vào công việc thường ngày.
Không dừng ở chính quyền số, VNPT đề xuất phát triển cửa khẩu số, logistics thông minh tại Lao Bảo, Cha Lo, La Lay; ứng dụng dữ liệu, IoT và AI trong nông nghiệp; mở rộng số hóa di sản và du lịch thông minh. Các giải pháp này gắn với những lĩnh vực Quảng Trị ưu tiên phát triển, đặc biệt là logistics, du lịch và nông nghiệp xanh.
Điểm đáng chú ý trong phương thức hợp tác được VNPT đề xuất là triển khai theo lộ trình, kế thừa hệ thống hiện có, thí điểm trước khi nhân rộng và đánh giá bằng hiệu quả ứng dụng thực tế. Cách làm này hướng tới hạn chế đầu tư phân tán, tập trung nguồn lực vào những nhiệm vụ có nhu cầu rõ ràng.
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Huỳnh Quang Liêm, Tổng Giám đốc Tập đoàn VNPT khẳng định, VNPT cam kết tiếp tục đồng hành cùng tỉnh Quảng Trị, huy động nguồn lực, chuyên gia và các giải pháp công nghệ để triển khai hiệu quả các nội dung trong Biên bản ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2027-2030. Lãnh đạo Tập đoàn VNPT cũng đề xuất hai bên thiết lập tổ công tác chung nhằm tăng cường phối hợp, kịp thời trao đổi, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cụ thể hóa các nội dung hợp tác thành từng nhiệm vụ, sản phẩm và lộ trình triển khai rõ ràng, bảo đảm tiến độ và hiệu quả thực chất.

Từ bảo đảm vận hành các nền tảng số đến khai thác dữ liệu và AI, hợp tác giữa VNPT và Quảng Trị đang hướng tới một yêu cầu cụ thể hơn: Công nghệ phải giải quyết được những vấn đề trong quản lý, sản xuất và đời sống. Hiệu quả của giai đoạn tiếp theo vì thế sẽ không chỉ nằm ở số lượng giải pháp được triển khai, mà ở những thay đổi thực tế mà người dân, doanh nghiệp và chính quyền địa phương có thể nhận thấy.
Tiến Khoa