hanoimoi.vn

Nghị quyết và Cuộc sống

Đề xuất thí điểm mô hình du lịch hoạt động 24/7, tạo sức sống cho kinh tế đêm

Đình Hiệp

Sáng 7-11, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình về dự án Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù về phát triển du lịch Việt Nam.

Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp tại hội trường sáng 7-11. Ảnh: Q
Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp tại hội trường sáng 7-11. Ảnh: quochoi.vn

Tạo đột phá phát triển du lịch Việt Nam

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh cho biết, dự thảo đề xuất nhiều chính sách nhằm huy động nguồn lực, thu hút đầu tư, phát triển sản phẩm du lịch chất lượng cao, tạo thuận lợi cho khách quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Dự thảo Nghị quyết gồm 13 điều, quy định phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc thực hiện, địa bàn ưu tiên, phân loại dự án du lịch và các chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển du lịch.

Theo dự thảo, việc áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù phải bảo đảm phát triển du lịch bền vững, nâng cao chất lượng trải nghiệm, giá trị gia tăng, thời gian lưu trú, năng suất lao động và thu nhập của người dân, gắn với bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Dự thảo xác định các địa bàn ưu tiên áp dụng chính sách, gồm: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; các trung tâm du lịch, khu du lịch quốc gia, địa điểm tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia và địa bàn phát triển du lịch cộng đồng, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.

a-2.jpg
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình. Ảnh: quochoi.vn

Các dự án được xem xét áp dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ, gồm: Dự án đầu tư khu phức hợp du lịch - văn hóa - thể thao - mua sắm; cơ sở lưu trú du lịch và các dự án phát triển tổ hợp văn hóa, biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hội nghị, hội thảo, triển lãm, cơ sở chăm sóc sức khỏe, công viên chủ đề, trung tâm giải trí, khu mua sắm, ẩm thực và dịch vụ du lịch sinh thái, nông nghiệp, cộng đồng, làng nghề.

Dự thảo phân loại dự án thành 3 nhóm: Dự án du lịch chất lượng cao, dự án du lịch động lực và dự án du lịch động lực mang tính chiến lược. Trong đó, dự án du lịch chất lượng cao phải có tổng vốn đầu tư từ 3.000 tỷ đồng trở lên, riêng các hạng mục du lịch tối thiểu 1.500 tỷ đồng và tạo việc làm cho ít nhất 1.000 lao động thường xuyên bình quân hằng năm.

Dự án du lịch động lực có tổng vốn đầu tư từ 10.000 tỷ đồng trở lên, trong đó hạng mục du lịch tối thiểu 5.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho ít nhất 1.500 lao động. Dự án du lịch động lực mang tính chiến lược có tổng vốn đầu tư từ 30.000 tỷ đồng trở lên, riêng hạng mục du lịch tối thiểu 15.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho ít nhất 2.000 lao động thường xuyên.

Các dự án phải đáp ứng yêu cầu về hiệu quả kinh tế - xã hội, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, khả năng thu hút khách quốc tế, tạo tác động lan tỏa, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường. Đối với dự án tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, mức vốn đầu tư tối thiểu và số lao động thường xuyên tối thiểu để phân loại dự án được áp dụng bằng 50% mức tương ứng.

a-1.jpg
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh trình bày Tờ trình. Ảnh: quochoi.vn

Một nội dung đáng chú ý khác là đề xuất thí điểm thử nghiệm có kiểm soát đối với các tổ hợp biểu diễn nghệ thuật, trung tâm hòa nhạc, phố lễ hội, khu giải trí tích hợp quy mô lớn, hoạt động kinh tế đêm và mô hình kinh doanh du lịch mới. Các mô hình này có thể được hoạt động 24/7, áp dụng thủ tục hành chính rút gọn, cấp phép một lần đối với chương trình biểu diễn nghệ thuật, sự kiện quốc tế quy mô lớn tổ chức định kỳ, hoạt động kéo dài.

Việc thử nghiệm được thực hiện trong phạm vi, thời hạn và điều kiện cụ thể theo đề án do UBND cấp tỉnh xây dựng, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận; thời hạn thử nghiệm tối đa 5 năm. Đề án phải xác định rõ tiêu chí đánh giá, phương án kiểm soát rủi ro, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, an toàn cho khách du lịch, bảo vệ môi trường và quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng dân cư.

Về chính sách thị thực, dự thảo định hướng mở rộng miễn thị thực song phương đối với khách mang hộ chiếu phổ thông từ các thị trường trọng điểm, có tiềm năng tăng trưởng, khả năng chi tiêu cao và kết nối hàng không thuận lợi. Đồng thời, nghiên cứu chính sách thị thực linh hoạt theo từng thị trường, ưu tiên khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày, khách quay trở lại và khách kết hợp du lịch với công vụ, hội nghị, hội thảo quốc tế.

Dự thảo cũng đề xuất thí điểm chính sách thị thực, cư trú thuận lợi đối với người nước ngoài làm việc từ xa, có khả năng lưu trú dài ngày; người đến Việt Nam khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe dài ngày và người đi cùng. Chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài có trình độ cao, nghệ sĩ, diễn viên làm việc tại các dự án du lịch thuộc diện ưu tiên cũng được xem xét chính sách thuận lợi về giấy phép lao động, thị thực và tạm trú theo quy định của Chính phủ.

Rà soát chính sách thị thực, bảo đảm thống nhất khi triển khai

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban cơ bản tán thành sự cần thiết ban hành Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển du lịch Việt Nam; đồng thời đề nghị rà soát kỹ các chính sách ưu đãi, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả và không tạo kẽ hở để trục lợi.

a-3.jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: quochoi.vn

Ủy ban tán thành việc ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhằm tạo động lực thúc đẩy phát triển du lịch, nhất là đối với những lĩnh vực pháp luật hiện hành chưa quy định hoặc quy định chưa đủ mạnh. Các chính sách cần tập trung vào những dự án có khả năng dẫn dắt, lan tỏa, tạo đột phá tại các địa bàn theo định hướng phát triển.

Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát, đối chiếu dự thảo với các luật có liên quan, nhất là những dự án luật đang trình Quốc hội tại kỳ họp này; đồng thời rà soát quy định về phân quyền, phân cấp, hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi. Đặc biệt, cần làm rõ tác động đối với ngân sách và phương án bảo đảm nguồn lực thực hiện từng chính sách.

Đối với nguyên tắc thực hiện, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị nhấn mạnh việc ưu tiên đầu tư theo hiệu quả kinh tế - xã hội, gắn với phát triển du lịch bền vững; bảo đảm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, cộng đồng dân cư, nhất là người dân vùng khó khăn, được tham gia và thụ hưởng thực chất.

Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lựa chọn dự án, áp dụng chính sách, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả và xử lý hành vi vi phạm, trục lợi.

daibieuqh.jpg
Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp tại hội trường sáng 7-11. Ảnh: quochoi.vn

Về phân loại, điều kiện dự án du lịch được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, cơ quan thẩm tra cơ bản tán thành việc phân loại theo 5 tiêu chí, gồm: Loại hình, quy mô, địa bàn, hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững.

Tuy nhiên, các loại hình dự án cần bám sát Nghị quyết số 26-NQ/TW; ưu tiên chính sách đối với doanh nghiệp du lịch trong nước. Cơ quan soạn thảo cần làm rõ căn cứ xác định và tính khả thi của tiêu chí quy mô vốn đầu tư tối thiểu, tỷ lệ vốn đầu tư dành cho du lịch.

Ủy ban Văn hóa và Xã hội cũng đề nghị bảo đảm các dự án được hỗ trợ, ưu đãi loại trừ những hợp phần kinh doanh dịch vụ casino, trò chơi điện tử có thưởng, đặt cược và kinh doanh bất động sản; đồng thời gắn ưu đãi với kết quả thực hiện.

Đáng chú ý, đối với dự án du lịch động lực mang tính chiến lược, dự thảo quy định mức ưu đãi, hỗ trợ rất cao nhưng chưa đánh giá được hiệu quả mang lại. Vì vậy, Ủy ban đề nghị cân nhắc kỹ lưỡng quy định này.

Đối với chính sách thị thực đặc biệt tạo thuận lợi cho khách du lịch quốc tế, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề nghị không quy định cụ thể chính sách thị thực đối với nhóm chuyên gia, lao động kỹ thuật, nghệ sĩ, diễn viên... trong Nghị quyết; giao Chính phủ cân nhắc, xác định chính sách đối với nhóm này cùng các đối tượng khác, phù hợp thực tiễn và yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, cần làm rõ tính mới, tính đặc thù và nội hàm của chính sách “thị thực đặc biệt”.

Đình Hiệp