hanoimoi.vn

Xã hội

Chuyển đổi số trong công tác dân tộc, tôn giáo: Để chính sách đến đúng người

Việt Thắng

Với hơn 109.000 người dân tộc thiểu số sinh sống tại nhiều địa bàn và hàng nghìn cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội đang đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Không chỉ phục vụ công tác quản lý, chuyển đổi số còn được kỳ vọng giúp các chính sách hỗ trợ đến đúng đối tượng, sát với nhu cầu thực tế của người dân.

Từ những dữ liệu còn phân tán

Theo số liệu thống kê cuối tháng 10-2026, Hà Nội có 109.331 người dân tộc thiểu số thuộc 48 thành phần dân tộc thiểu số. Trong đó, 55.247 người sinh sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, còn 54.084 người cư trú tại các địa bàn khác. Như vậy, gần một nửa số người dân tộc thiểu số của Thủ đô đang sinh sống ngoài vùng miền núi. Thành phố Hà Nội cũng có 9 tôn giáo đang với khoảng 1 triệu tín đồ, hơn 2.000 chức sắc, khoảng 3.000 chức việc và 2.400 cơ sở tôn giáo. Những con số này phần nào cho thấy khối lượng công việc trong quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.

1.jpg
Hoạt động biểu diễn văn nghệ truyền thống góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Hà Nội. Ảnh: PV

Thực tế, khi thông tin được lưu trữ ở nhiều đơn vị, việc tổng hợp, đối chiếu thường mất thời gian. Chưa kể, những thay đổi về nơi cư trú, cơ sở sinh hoạt tín ngưỡng hay nhu cầu hỗ trợ của người dân đòi hỏi dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên.

Thời gian qua, Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội đã tập trung rà soát, chuẩn hóa thông tin chuyên ngành. Theo kết quả công tác 8 tháng năm 2026, thành phố phối hợp rà soát dữ liệu 5.597 cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ Tổng điều tra kinh tế năm 2026; duy trì việc theo dõi, tổng hợp thông tin nhanh từ 126 xã, phường.

Cùng với đó, dữ liệu về 109.331 người dân tộc thiểu số, danh mục 119 người có uy tín và 30 sản phẩm tiêu biểu vùng dân tộc thiểu số cũng được chuẩn hóa, phục vụ xây dựng hệ thống thông tin chuyên ngành.

Ngày 24-9-2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 364/KH-UBND về thu thập, tạo lập và cập nhật cơ sở dữ liệu về dân tộc. Đây là bước triển khai nhằm từng bước khắc phục tình trạng thông tin phân tán, tạo thuận lợi cho việc tra cứu, thống kê và thực hiện các nhiệm vụ quản lý.

Việc chuẩn hóa dữ liệu càng trở nên cần thiết khi Hà Nội thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Những thay đổi về địa giới và tổ chức bộ máy đòi hỏi thông tin phải được quản lý thống nhất, tránh trùng lặp hoặc bỏ sót trong quá trình bàn giao, tiếp nhận công việc.

Ở cấp Trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng đang đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu chuyên ngành với Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Tại cuộc họp ngày 15-10, Thứ trưởng Thường trực Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Hoài Anh yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tiến độ ký số, chia sẻ dữ liệu, đồng thời rà soát, đối chiếu kỹ thông tin trước khi đưa lên hệ thống.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hoài Anh, dữ liệu phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, thường xuyên được cập nhật và có khả năng sử dụng chung. Bởi nếu thông tin ban đầu thiếu chính xác, việc khai thác dữ liệu khó mang lại hiệu quả như mong muốn.

Dẫu vậy, số hóa hồ sơ mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là những thông tin được thu thập sẽ giúp ích như thế nào cho việc giải quyết công việc và thực hiện chính sách đối với người dân.

Để người dân thực sự được hưởng lợi

Nếu việc chuẩn hóa dữ liệu giúp cơ quan quản lý nắm chắc tình hình thì ứng dụng công nghệ vào đời sống lại mở ra những cơ hội mới cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong phát triển sản xuất, kinh doanh và quảng bá sản phẩm địa phương.

Tại buổi làm việc với đoàn nghiên cứu của Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Hà Nội Bùi Duy Quang đề cập đến yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TƯ của Bộ Chính trị.

Theo ông Bùi Duy Quang, chuyển đổi số không chỉ phục vụ công tác quản lý mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, tạo thêm điều kiện để đồng bào cải thiện đời sống.

Thực tế, điện thoại thông minh, mạng xã hội và các nền tảng thương mại điện tử đang mở ra thêm những cách thức giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm. Đối với người dân vùng miền núi, đây có thể là công cụ hữu ích để quảng bá nông sản, sản phẩm thủ công, giới thiệu điểm đến du lịch và tìm kiếm khách hàng.

Tuy nhiên, không phải cứ có điện thoại thông minh là có thể bán hàng hiệu quả trên môi trường số. Người dân còn cần kiến thức về giới thiệu sản phẩm, thanh toán, vận chuyển và kết nối thị trường. Đây cũng là những vấn đề đang được các nhà nghiên cứu quan tâm.

2.jpg
Du khách tìm hiểu, trải nghiệm những nét văn hóa truyền thống đặc sắc trong không gian sinh hoạt cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: PV

Theo thông tin từ Viện Dân tộc học và Tôn giáo học, đơn vị đang triển khai nghiên cứu về ứng dụng chuyển đổi số trong phát triển sinh kế của người dân tộc thiểu số tại Hà Nội và Phú Thọ. Nhóm nghiên cứu đã khảo sát, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với đồng bào tại hai xã Yên Xuân và Ba Vì, qua đó xây dựng các đề xuất phù hợp với điều kiện thực tế.

Với những địa bàn có lợi thế về cảnh quan, văn hóa truyền thống, sản phẩm nông nghiệp và nghề thủ công, việc quảng bá trên môi trường số là hướng đi đáng quan tâm. Song, để phát triển lâu dài, người dân vẫn cần được hỗ trợ về kỹ năng và cách tổ chức hoạt động.

Tại Hà Nội, hơn 54.000 người dân tộc thiểu số đang sinh sống ngoài vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nếu thông tin được cập nhật đầy đủ, các cơ quan chức năng sẽ có thêm căn cứ rà soát những trường hợp đủ điều kiện hưởng chính sách, hạn chế nguy cơ bỏ sót.

Tất nhiên, không phải cứ là người dân tộc thiểu số thì đương nhiên thuộc diện hỗ trợ. Mỗi chính sách đều có những tiêu chí riêng về đối tượng, địa bàn và điều kiện áp dụng. Vì vậy, dữ liệu dân cư cần được đối chiếu với quy định hiện hành, bảo đảm việc thực hiện chính sách đúng người, đúng quy định.

Đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý thông tin tập trung cũng có thể giúp cơ quan chức năng thuận lợi hơn trong thống kê và giải quyết công việc. Tuy nhiên, việc thu thập, sử dụng dữ liệu phải đúng mục đích, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và an toàn thông tin cá nhân.

Một vấn đề khác là khả năng tiếp cận công nghệ của người dân. Không phải ai cũng sử dụng thành thạo điện thoại thông minh hay dịch vụ trực tuyến, nhất là người cao tuổi và những người ít có điều kiện tiếp xúc với công nghệ.

Bởi vậy, bên cạnh xây dựng hệ thống dữ liệu, chính quyền cơ sở vẫn cần duy trì hình thức hướng dẫn trực tiếp. Cán bộ phụ trách công tác dân tộc, tôn giáo không chỉ cần biết sử dụng phần mềm mà còn phải nắm chắc chính sách, hiểu đặc điểm từng cộng đồng để hỗ trợ người dân khi cần thiết.

Dữ liệu số có thể cho biết số lượng, địa bàn cư trú và những thông tin cần thiết, nhưng để hiểu người dân đang gặp khó khăn gì, mong muốn điều gì, vẫn cần những cuộc gặp gỡ, trao đổi từ cơ sở.

Từ việc rà soát hàng nghìn cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo đến cập nhật thông tin đồng bào dân tộc thiểu số, Hà Nội đang từng bước thay đổi phương thức quản lý. Những kết quả ban đầu là cần thiết, song điều người dân quan tâm không phải có bao nhiêu hồ sơ được số hóa, mà là thủ tục có thuận tiện hơn, chính sách có được giải quyết kịp thời và quyền lợi chính đáng có được bảo đảm hay không.

Đó cũng là thước đo thiết thực nhất để chuyển đổi số trong công tác dân tộc, tôn giáo thực sự đi vào cuộc sống.

Việt Thắng