Xã Ứng Hòa sản xuất rau an toàn, thân thiện môi trường
Nông dân xã Ứng Hòa đang từng bước thay đổi phương thức canh tác thông qua mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) trên rau màu vụ đông xuân.
Không chỉ học cách sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, bà con còn trực tiếp thực hành các giải pháp sinh học, bảo vệ thiên địch, cải tạo đất, hướng tới sản xuất rau an toàn, thân thiện với môi trường.

Thay đổi thói quen canh tác của nông dân
Trên những ruộng dưa chuột tại Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Đại Hùng (xã Ứng Hòa), nông dân không chỉ quan tâm cây cao bao nhiêu, ra bao nhiêu hoa, đậu bao nhiêu quả mà còn chú ý đến mật độ côn trùng gây hại và sự xuất hiện của các loài thiên địch. Những chiếc bẫy dính màu vàng được cắm giữa ruộng, những dải hoa trồng ven bờ và việc sử dụng phân bón hữu cơ đang mở ra cách tiếp cận mới trong sản xuất rau màu.
Đây là kết quả bước đầu từ lớp huấn luyện nông dân về quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) do Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Ứng Hòa phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội tổ chức. Lớp tập huấn có 30 học viên tham gia, không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn đưa nông dân trực tiếp xuống đồng thực hành, theo dõi và đánh giá hiệu quả từng biện pháp kỹ thuật.
Bà Đoàn Thị Hoa thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Hùng cho biết, tham gia lớp tập huấn, nông dân được thử nghiệm sử dụng phân bón hữu cơ sinh học; dùng bẫy dính vàng hạn chế côn trùng gây hại; trồng hoa ven bờ ruộng để thu hút thiên địch. Các thí nghiệm được bố trí đối chứng với phương thức canh tác theo tập quán của nông dân, cùng giống dưa chuột 222 (F1 Nhật Bản). Qua đó, học viên có điều kiện theo dõi sự khác biệt về sinh trưởng, sâu bệnh, năng suất và hiệu quả kinh tế. Những kết quả ngay trên đồng ruộng trở thành bài học trực quan, giúp bà con có cơ sở lựa chọn phương thức sản xuất phù hợp.

Với thử nghiệm sử dụng phân bón hữu cơ sinh học, cây dưa chuột sinh trưởng chậm hơn công thức bón phân theo tập quán. Năng suất dự kiến đạt 2.575kg/sào, thấp hơn mức 2.643kg/sào của công thức đối chứng. Tuy nhiên, công thức sử dụng phân hữu cơ có mức độ gây hại của một số đối tượng sâu bệnh thấp hơn, số lần sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giảm và mật độ thiên địch trên đồng ruộng cao hơn. Đáng chú ý, tại thời điểm 35 ngày sau gieo trồng, mật độ thiên địch ở công thức sử dụng phân hữu cơ đạt 1,2 con/cây, trong khi công thức canh tác theo tập quán chỉ đạt 0,2 con/cây.
Ở thử nghiệm sử dụng bẫy dính vàng, giải pháp này thu hút được nhiều đối tượng như ngài, ruồi vàng, bọ trĩ, góp phần hạn chế sâu hại và giảm nhu cầu sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Theo kết quả theo dõi, công thức sử dụng bẫy giảm được 2 lần phun thuốc so với phương thức canh tác thông thường. Mật độ thiên địch cũng cao hơn.
Tương tự, phương thức quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp cũng được triển khai trên cây cải ngồng tại Hợp tác xã Nông nghiệp Kim Đường. Kết quả thực nghiệm cho thấy, công thức sử dụng phân hữu cơ kết hợp bột đậu tương chăm bón cho cây rau cải ngồng cho năng suất 495kg/sào, cao hơn 50kg/sào so với công thức sử dụng phân NPK tổng hợp. Đất trồng ở công thức này có độ tơi xốp tốt hơn, cây sinh trưởng cân đối và mức độ sâu bệnh gây hại thấp hơn.
Đối với biện pháp sử dụng bẫy dính màu vàng, năng suất cải ngồng đạt 492kg/sào, cao hơn 47kg/sào so với công thức đối chứng. Đặc biệt, thí nghiệm trồng hoa dẫn dụ thiên địch ghi nhận sự xuất hiện của 8 loài côn trùng có ích, góp phần kiểm soát sâu hại tự nhiên, giảm áp lực sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và cải thiện cảnh quan đồng ruộng...

Nhân rộng mô hình, hướng tới vùng rau an toàn
Theo Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Ứng Hòa Lưu Đức Lào, từ hai mô hình tại Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Hùng và Kim Đường có thể thấy, quản lý sức khỏe cây trồng không đơn thuần là thay thế phân bón hóa học bằng phân hữu cơ hay sử dụng bẫy dính thay cho thuốc bảo vệ thực vật. Cốt lõi của IPHM là thay đổi tư duy sản xuất, muốn có cây rau màu khỏe mạnh phải bắt đầu từ đất; muốn kiểm soát sâu bệnh hiệu quả phải hiểu hệ sinh thái đồng ruộng; muốn có nông sản an toàn phải kiểm soát cả quá trình sản xuất, từ gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch.
Tuy nhiên, thực tế triển khai mô hình tại Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Hùng cho thấy, công thức canh tác theo tập quán vẫn cho năng suất và lợi nhuận cao hơn mô hình IPHM. Điều này lý giải vì sao không dễ vận động nông dân thay đổi thói quen canh tác đã duy trì nhiều năm. Khi thu nhập phụ thuộc vào từng vụ rau, nông dân có lý do cân nhắc trước khi lựa chọn phương thức mới, nhất là khi hiệu quả kinh tế chưa thể hiện rõ ngay lập tức.
Do đó, để IPHM thực sự đi vào đời sống sản xuất, các cơ quan chuyên môn xã Ứng Hòa và Sở Nông nghiệp và Môi trường cần tiếp tục theo dõi hiệu quả qua nhiều vụ, thí nghiệm trên nhiều loại cây trồng. Đồng thời, các đơn vị cũng cần đánh giá đầy đủ chi phí đầu vào, năng suất, chất lượng nông sản và lợi ích môi trường. Đặc biệt, các cơ quan chuyên môn cần đồng hành với hợp tác xã, hướng dẫn nông dân nhận diện đúng đối tượng gây hại, sử dụng phân bón hợp lý và chỉ phun thuốc bảo vệ thực vật khi cần thiết, đúng nguyên tắc.

Cùng với đó, các hợp tác xã cần phát huy vai trò tổ chức sản xuất, hình thành nhóm nông dân cùng thực hành IPHM, chia sẻ kinh nghiệm và giám sát quy trình canh tác. Việc kết nối tiêu thụ, xây dựng vùng rau có quy trình sản xuất rõ ràng, truy xuất được nguồn gốc cũng rất quan trọng. Bởi nếu sản phẩm làm ra an toàn nhưng thiếu đầu ra ổn định, giá bán không tương xứng với công sức và chi phí đầu tư, người nông dân sẽ khó duy trì phương thức sản xuất mới.
Theo Giám đốc Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Ứng Hòa Lưu Đức Lào, các hợp tác xã sẽ tiếp tục hướng dẫn các hộ duy trì, nhân rộng biện pháp IPHM hiệu quả; tăng cường thăm đồng, theo dõi diễn biến sâu bệnh, sử dụng phân bón hợp lý, ưu tiên giải pháp sinh học và chỉ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật khi thực sự cần thiết. Các cơ quan chuyên môn tiếp tục hỗ trợ kỹ thuật để từng bước hình thành vùng sản xuất rau an toàn, nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người dân.
Với địa phương có thế mạnh sản xuất nông nghiệp như Ứng Hòa, phát triển rau an toàn không chỉ nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn là hướng đi cần thiết để nâng cao giá trị sản xuất, bảo vệ tài nguyên đất và môi trường nông thôn.
Từ những luống rau ở Đại Hùng, Kim Đường, điều cần hướng tới không chỉ là một vụ mùa đạt năng suất cao mà là phương thức canh tác có trách nhiệm với đất đai, môi trường và sức khỏe con người. Khi người nông dân hiểu cây trồng, hiểu đất và biết dựa vào hệ sinh thái để sản xuất, nông nghiệp an toàn mới có thể trở thành lựa chọn tự giác trên mỗi thửa ruộng ở Ứng Hòa.
Hoàng Sơn