Thụy Điển chia sẻ kinh nghiệm đầu tư cho y tế dự phòng tại Việt Nam
Việc Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 kéo theo yêu cầu nâng cao chất lượng hệ thống y tế. Kinh nghiệm về phúc lợi, chăm sóc người cao tuổi và phát triển y tế dự phòng của Thụy Điển có ý nghĩa tham khảo sâu sắc với Việt Nam.
Trao đổi với Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, ông Marcus Persson, Tham tán thương mại kiêm Giám đốc quốc gia của Business Sweden tại Việt Nam, chia sẻ góc nhìn về bảo đảm nguồn lực cho sức khỏe cộng đồng và tiềm năng hợp tác giữa doanh nghiệp hai nước.
.jpg)
Đầu tư sớm trong phòng ngừa bệnh tật
“Hiện nay, cơ cấu dân số trẻ đang tạo thuận lợi cho Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình này sẽ thay đổi khá nhanh và diện mạo dân số trong 15 năm tới sẽ rất khác”, ông Marcus Persson lưu ý.
Theo ông Marcus Persson, hệ thống phúc lợi của Thụy Điển vận hành trên cơ sở người dân đóng thuế ở mức tương đối cao để được thụ hưởng các dịch vụ công có chất lượng. Ông gọi đó là “thỏa thuận giữa Chính phủ và công dân”, trong đó nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm cung cấp dịch vụ, người dân sẵn sàng đóng góp để duy trì hệ thống.
Trong chăm sóc người cao tuổi, Thụy Điển cũng đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống, mức ngân sách dành cho lĩnh vực này luôn là chủ đề được thảo luận. Một trong những định hướng của nước này là tạo điều kiện để người cao tuổi sống tại nhà lâu nhất có thể, thông qua chăm sóc y tế và hỗ trợ hằng ngày. Khi sức khỏe và điều kiện sinh hoạt thay đổi, họ cần được tiếp cận dịch vụ phù hợp để duy trì cuộc sống có chất lượng.
Những dịch vụ đó đòi hỏi nguồn kinh phí lớn và khó có thể triển khai hiệu quả nếu thiếu đầu tư dài hạn. Ông Marcus Persson cho rằng, Việt Nam nên chuẩn bị nguồn lực từ khi điều kiện kinh tế còn thuận lợi, thay vì chờ đến khi nhu cầu chăm sóc tăng cao mới bắt đầu giải quyết. Thực tế, Thụy Điển phát triển mạnh trong những thập niên gần đây nhờ nền tảng thể chế vững chắc và các khoản đầu tư đúng hướng.
Từ câu chuyện chăm sóc người cao tuổi, ông Marcus Persson cũng đề cập đến vai trò của đầu tư sớm trong phòng ngừa bệnh tật. “Nếu Việt Nam đặt mục tiêu tạo ra thay đổi đáng kể, thậm chí có bước đột phá trong phòng ngừa bệnh tật trong 10 năm tới, thì y tế dự phòng cần được ưu tiên bởi lĩnh vực này sẽ giúp tiết kiệm rất nhiều chi phí trong những năm tiếp theo”, ông Marcus Persson nhấn mạnh.
Ông dẫn ví dụ các doanh nghiệp hàng đầu như Getinge và AstraZeneca đang triển khai chương trình chăm sóc dự phòng, đồng thời ủng hộ ý tưởng tổ chức khám sức khỏe định kỳ miễn phí hằng năm ở Việt Nam, coi đó là hướng đi nên lựa chọn.
Thụy Điển hỗ trợ Việt Nam đầu tư dài hạn cho y tế

Những đánh giá tích cực về triển vọng y tế Việt Nam cũng gắn với khả năng hợp tác trong đầu tư và cung cấp giải pháp. Ông Marcus cho biết: “Thụy Điển có thể hỗ trợ Việt Nam huy động nguồn vốn cho các khoản đầu tư dài hạn. Nguồn lực tài chính này rất quan trọng để xây dựng các bệnh viện hiện đại, có khả năng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao và đạt tiêu chuẩn hàng đầu thế giới”.
Ông đề cập vai trò của Tập đoàn Tín dụng Xuất khẩu Thụy Điển (SEK) và Cơ quan Tín dụng Xuất khẩu Thụy Điển (EKN). Bên cạnh bảo đảm năng lực chuyên môn cho các doanh nghiệp Thụy Điển, hai tổ chức này còn có thể tài trợ cho các khoản đầu tư tại Việt Nam với những điều kiện rất thuận lợi.
Hợp tác giữa doanh nghiệp Thụy Điển và Việt Nam có triển vọng trên bốn lĩnh vực chính. Trước hết là phát triển bệnh viện. Các doanh nghiệp Thụy Điển có thể cung cấp phương án thiết kế bền vững, thiết bị y tế, công nghệ kiểm soát nhiễm khuẩn và nhiều giải pháp khác phục vụ hoạt động của cơ sở khám, chữa bệnh.
Doanh nghiệp Thụy Điển cũng có thể tham gia quá trình số hóa hệ thống y tế Việt Nam thông qua các giải pháp bệnh viện kết nối, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao về quản lý và khai thác dữ liệu sức khỏe, nhất là khi Việt Nam đã yêu cầu các bệnh viện triển khai hồ sơ bệnh án điện tử từ năm 2025.
Phòng ngừa các bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, tiểu đường và bệnh thận là lĩnh vực hợp tác thứ ba được ông đề cập. Nhóm bệnh này cần được quan tâm trong công tác dự phòng, bởi việc phát hiện sớm và theo dõi sức khỏe có thể góp phần hạn chế biến chứng, giảm chi phí điều trị về lâu dài.
Hướng hợp tác thứ tư là phát triển nguồn nhân lực y tế, trong đó có đào tạo lâm sàng, mô phỏng y khoa và trao đổi năng lực chuyên môn. Qua đó giúp đội ngũ y tế cập nhật kiến thức, tăng cường thực hành và tiếp cận các phương pháp chuyên môn mới.
Ông Marcus nhìn nhận việc chuẩn bị sớm về thể chế, tài chính và nhân lực sẽ quyết định khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe trong dài hạn. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn các nguồn lực và kinh nghiệm quốc tế.

Ngay từ những năm 1970, Thụy Điển bắt đầu hỗ trợ Việt Nam xây dựng các cơ sở y tế.
Năm 1976, khởi công Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển tại Uông Bí, Quảng Ninh.
Ngày 16-3-1981, Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Thụy Điển (nay là Bệnh viện Nhi Trung ương) chính thức khánh thành, với sự hỗ trợ của Chính phủ và nhân dân Thụy Điển.
Những thập niên tiếp theo, hợp tác mở rộng sang đào tạo, chuyển giao chuyên môn, thực hành lâm sàng, nghiên cứu y học và củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Năm 2026, hai nước kỷ niệm 50 năm hợp tác y tế, hướng tới các lĩnh vực mới như y tế số, y học chính xác, y tế dự phòng, hiện đại hóa bệnh viện và phát triển nhân lực y tế.
Kiều Thoan Thu