Luật Thủ đô năm 2026: Từ cơ chế đặc thù đến sức bật văn hóa
Sau 4 tháng triển khai thi hành, Luật Thủ đô năm 2026 đang bước đầu tạo nên đổi thay trong đời sống kinh tế - xã hội của Thủ đô. Dưới góc nhìn của một nhà nghiên cứu văn hóa, đại biểu Quốc hội, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương đã dành cho phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội cuộc trao đổi về những nhận định, đánh giá bước đầu.
Chuyển động tích cực ở tư duy và thể chế phát triển văn hóa
Thưa Phó Giáo sư, sau 4 tháng thi hành Luật Thủ đô năm 2026, ông nhìn nhận thế nào về những chuyển biến bước đầu trong lĩnh vực văn hóa của Hà Nội? Theo ông, những cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô năm 2026 đã mở ra không gian phát triển mới ra sao để Thủ đô phát huy giá trị di sản, xây dựng công nghiệp văn hóa và khẳng định vị thế trung tâm văn hóa của cả nước?
- Sau hơn 4 tháng Luật Thủ đô năm 2026 có hiệu lực, có thể nhận thấy một chuyển động tích cực trước hết ở tư duy và thể chế phát triển văn hóa. Chúng ta cần đánh giá đúng tính chất của giai đoạn khởi đầu: 4 tháng đủ để nhìn thấy quyết tâm cụ thể hóa chính sách, nhưng chưa đủ dài để khẳng định những thành tựu kinh tế - xã hội bền vững.
Điều đáng ghi nhận là Hà Nội đã sớm ban hành các nghị quyết về bảo vệ khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, huy động nguồn lực xã hội cho văn hóa, thể thao, tu bổ di tích, phát triển kinh tế ban đêm và hỗ trợ hoạt động văn hóa, nghệ thuật; đồng thời tiếp tục hoàn thiện quy trình thực hiện, tập huấn, đối thoại với cơ sở. Việc đưa chính sách đến 126 xã, phường là bước đi cần thiết để những thẩm quyền mới không chỉ nằm trên giấy, mà từng bước trở thành năng lực hành động của bộ máy.

Giá trị lớn nhất của Luật, theo tôi, là mở ra một không gian thể chế rộng hơn để Hà Nội chủ động giải quyết những vấn đề đặc thù của một đô thị nghìn năm văn hiến. Luật trao thẩm quyền cho thành phố xây dựng chính sách huy động, sử dụng nguồn lực bảo vệ và phát triển văn hóa; có cơ chế đối với các khu phát triển thương mại và văn hóa, trung tâm công nghiệp văn hóa; hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành di sản; chủ động hơn trong bảo vệ, tu bổ và phát huy giá trị di tích trên cơ sở tôn trọng yếu tố gốc. Những dự án công nghiệp văn hóa đáp ứng điều kiện cũng có cơ hội tiếp cận chính sách ưu đãi đầu tư.
Như vậy, văn hóa không còn chỉ được đặt trong câu chuyện bảo tồn và chi ngân sách, mà được nhìn nhận đầy đủ hơn như một lĩnh vực có khả năng thu hút đầu tư, tạo việc làm và hình thành những giá trị mới.
Hà Nội có những nguồn lực mà không đô thị nào có thể sao chép: Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, không gian phố cổ, các làng nghề, lễ hội, nghệ thuật truyền thống và đặc biệt là con người Hà Nội. Nhưng di sản chỉ thật sự trở thành sức mạnh phát triển khi được kết nối với sáng tạo đương đại, công nghệ số, thiết kế, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và du lịch chất lượng cao.
Vị thế trung tâm văn hóa của cả nước vì thế không chỉ được khẳng định bằng số lượng di tích hay sự kiện, mà còn bằng khả năng tạo ra tác phẩm, sản phẩm, doanh nghiệp và những không gian sáng tạo có sức lan tỏa. Đích đến là một Hà Nội vừa gìn giữ được chiều sâu văn hiến, vừa hình thành sức hấp dẫn và năng lực cạnh tranh của một thành phố sáng tạo hiện đại.

Phát huy vai trò văn hóa như động lực phát triển
Theo ông, đâu là những điểm mới trong tư duy lập pháp chuyển từ quản lý sang kiến tạo phát triển thể hiện qua các quy định về văn hóa của Luật Thủ đô năm 2026? Sau 4 tháng triển khai, Hà Nội cần làm gì để chuyển lợi thế di sản, bản sắc văn hóa thành nguồn lực nội sinh, đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội?
- Điểm mới quan trọng không đơn thuần là trao thêm quyền hay mở rộng ưu đãi, mà là thay đổi cách tiếp cận: Từ chủ yếu quản lý những gì đang có sang tạo điều kiện để các giá trị mới được hình thành trên nền tảng những gì chúng ta đang có. Trước đây, khi nói đến di sản, chúng ta thường bắt đầu từ câu hỏi phải bảo vệ, kiểm soát như thế nào. Điều đó luôn cần thiết.
Nhưng với tư duy kiến tạo, còn phải hỏi thêm: Di sản có thể đóng góp gì cho đời sống cộng đồng, cho sự phát triển của ngành nghề sáng tạo, cho sức hấp dẫn của Thủ đô; Nhà nước cần thiết kế thể chế gì để các chủ thể cùng tham gia mà vẫn bảo đảm giữ gìn giá trị gốc? Bảo tồn và phát triển không phải hai mục tiêu đối lập, nếu chúng ta biết đặt ra giới hạn, trách nhiệm và cơ chế phân chia lợi ích phù hợp.
Tư duy ấy thể hiện khá rõ trong Luật Thủ đô năm 2026. Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội được quyết định nhiều chính sách cụ thể về văn hóa và các thiết chế sáng tạo; chính quyền thành phố có thẩm quyền chủ động hơn trong quản lý, tu bổ di tích, đi đôi với yêu cầu tham vấn, bảo vệ yếu tố gốc; các dự án thuộc ngành công nghiệp văn hóa có cơ chế hỗ trợ đầu tư.
Đáng chú ý, Luật còn cho phép Hà Nội thí điểm những mô hình, chính sách mới theo các điều kiện và cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Đây chính là tinh thần lập pháp kiến tạo: Pháp luật không chỉ quy định cái gì không được làm, mà còn mở đường cho các sáng kiến có ích được thực hiện một cách hợp pháp, minh bạch và có trách nhiệm.
Từ đây, Hà Nội cần chuyển thật nhanh từ ban hành cơ chế sang tổ chức các dự án và sản phẩm có thể đo được hiệu quả. Trước hết, phải xây dựng bản đồ nguồn lực văn hóa gắn với quy hoạch không gian, hạ tầng số và nhu cầu thị trường, nhận diện những di sản, làng nghề, không gian công cộng có khả năng trở thành hạt nhân sáng tạo.
Tiếp đó, lựa chọn một số mô hình có tính dẫn dắt để làm đến nơi đến chốn: Tuyến trải nghiệm di sản được kể bằng công nghệ, không gian sáng tạo gắn với công trình kiến trúc có giá trị, chuỗi sản phẩm thiết kế từ làng nghề, hoạt động biểu diễn và kinh tế đêm có bản sắc.
Thành phố cần có cơ chế phối hợp thực chất giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nghệ nhân, viện trường và cộng đồng dân cư; tháo gỡ những nút thắt về mặt bằng, thủ tục, quyền khai thác và tiếp cận vốn.
Đặc biệt, không nên hiểu phát huy di sản là thương mại hóa di sản bằng mọi giá. Một chính sách thành công phải đồng thời làm cho di sản được bảo vệ tốt hơn, người dân được tiếp cận văn hóa thuận lợi hơn và những người gìn giữ di sản có sinh kế tốt hơn.

Khi nghệ nhân có thu nhập, người trẻ có cơ hội khởi nghiệp, doanh nghiệp có sản phẩm mang bản sắc Việt Nam và người dân có thêm niềm tự hào về nơi mình sống, khi đó văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh.
Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy vai trò văn hóa như động lực phát triển; Luật Thủ đô năm 2026 chính là cơ hội để Hà Nội cụ thể hóa tinh thần ấy bằng kết quả có thể cảm nhận trong cuộc sống hằng ngày.
Cần phát hiện, điều chỉnh sớm những chính sách chưa phù hợp
Từ thực tiễn thi hành Luật Thủ đô năm 2026, theo đại biểu, cần có những cơ chế giám sát như thế nào để các chính sách đặc thù, vượt trội về văn hóa thật sự phát huy hiệu quả? Đồng thời, gợi mở bài học gì cho đại biểu trong đổi mới tư duy lập pháp, nhất là khi xây dựng các cơ chế phát triển văn hóa?
- Cơ chế đặc thù càng rộng thì yêu cầu minh bạch, giải trình và giám sát càng phải cao. Theo tôi, giám sát chính sách văn hóa không thể chỉ dừng ở việc xem đã ban hành bao nhiêu văn bản, phân bổ bao nhiêu kinh phí hay tổ chức bao nhiêu sự kiện. Cần giám sát cả một chu trình, từ lựa chọn mục tiêu, xây dựng cơ chế, quyết định đầu tư, tổ chức thực hiện đến đánh giá tác động.
Mỗi chương trình, dự án sử dụng cơ chế đặc thù phải công khai được lý do lựa chọn, nguồn lực, đối tượng hưởng lợi, trách nhiệm của cơ quan thực hiện và những tiêu chí đánh giá cụ thể.

Với di sản, phải có chỉ số về mức độ bảo vệ giá trị gốc, chất lượng tu bổ, khả năng tiếp cận của công chúng; với công nghiệp văn hóa, cần xem xét sức hút đầu tư, doanh nghiệp mới, việc làm, doanh thu và khả năng hình thành chuỗi giá trị; với thiết chế văn hóa, phải đo được tần suất sử dụng và mức độ hài lòng của người dân.
Luật Thủ đô năm 2026 đã đặt ra một khuôn khổ giám sát và trách nhiệm giải trình khá rõ: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội thực hiện giám sát theo thẩm quyền; Hội đồng nhân dân thành phố giám sát và báo cáo định kỳ; chính quyền thành phố phải công khai, giải trình, đánh giá hiệu quả một số văn bản sau một năm thi hành; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tham gia giám sát, phản biện xã hội.
Vấn đề là vận hành các thiết chế ấy bằng thông tin thực chất, dữ liệu có thể kiểm chứng và sự tham gia của chuyên gia độc lập, nghệ nhân, người làm nghề và cộng đồng tại nơi có di sản. Đồng thời, cần phát hiện, điều chỉnh sớm những chính sách chưa phù hợp; bảo vệ người dám đổi mới đúng quy định nhưng xử lý nghiêm việc lợi dụng cơ chế đặc thù để trục lợi, làm thất thoát tài sản công hoặc xâm hại di sản.
Từ góc độ lập pháp, thực tiễn Hà Nội gợi mở 3 điều.
Một là, muốn kiến tạo phát triển thì phải mạnh dạn phân quyền, nhưng quyền phải luôn gắn với nguồn lực, năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình.
Hai là, pháp luật cần dành không gian cho những mô hình mới, nhất là trong văn hóa và công nghiệp sáng tạo, song phải xác lập ranh giới bảo vệ lợi ích công, bản sắc và quyền văn hóa của người dân.
Ba là, hiệu quả của một đạo luật cần được kiểm chứng bằng thay đổi trong đời sống chứ không chỉ bằng tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn. Những cơ chế thử nghiệm thành công ở Hà Nội có thể trở thành kinh nghiệm để hoàn thiện chính sách văn hóa ở tầm quốc gia, nhưng phải được tổng kết khách quan, phù hợp điều kiện từng địa phương.
Sau cùng, thước đo của Luật Thủ đô năm 2026 không phải Hà Nội được trao bao nhiêu quyền, mà là từ những quyền đó, Thủ đô tạo ra bao nhiêu cơ hội phát triển, bảo vệ được bao nhiêu giá trị văn hiến và mang lại thêm những gì cho người dân. Một đạo luật kiến tạo phải làm cho văn hóa vừa được trân trọng hơn, vừa có điều kiện đóng góp nhiều hơn cho tương lai của đất nước.
Trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Hoài Sơn!
Phương Thảo