Chủ động hóa giải sức ép già hóa dân số
Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới (người từ 65 tuổi trở lên chiếm 14% dân số vào khoảng năm 2034). Đáng lưu ý, quá trình này diễn ra khi Việt Nam mới được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm nước thu nhập trung bình cao từ tháng 7-2026. Tình trạng này thường được gọi là “già trước khi giàu”.
Thời kỳ cơ cấu dân số vàng, khi số người trong độ tuổi lao động còn đông, đang dần thu hẹp và dự kiến khép lại vào khoảng năm 2036. Đây chính là khoảng thời gian quý giá để xây dựng các trụ cột an sinh cho tuổi già, gồm bảo đảm thu nhập khi về hưu, chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn cho những người không còn khả năng tự phục vụ.
Những mô hình, kinh nghiệm đáng học hỏi
Một trong những kinh nghiệm đáng chú ý là cách Australia phân tán rủi ro tuổi già qua nhiều lớp chính sách. Ở lớp thứ nhất là trợ cấp hưu trí do ngân sách nhà nước chi trả, đóng vai trò lưới an toàn cho người từ 67 tuổi, được xét trên cơ sở thu nhập và tài sản để tập trung nguồn lực cho người thực sự cần. Tầng thứ hai là quỹ hưu trí bắt buộc. Theo đó, người sử dụng lao động đóng một tỷ lệ tiền lương vào tài khoản hưu trí cá nhân của người lao động. Tỷ lệ này đạt 12% từ ngày 1-7-2025. Sau hơn ba thập niên tích lũy, tổng tài sản hưu trí của Australia đã vượt 4.400 tỷ đô la Australia, giúp giảm đáng kể sự phụ thuộc của người về hưu vào ngân sách nhà nước. Tầng thứ ba là các khoản tiết kiệm tự nguyện, được khuyến khích bằng ưu đãi thuế.
Nếu hệ thống hưu trí giải quyết bài toán thu nhập, thì y tế lại là một trụ cột khác. Australia duy trì hệ thống chăm sóc sức khỏe toàn dân Medicare từ năm 1984, bảo đảm người dân tiếp cận các dịch vụ cơ bản, đồng thời phát triển hồ sơ sức khỏe điện tử MHR (My Health Record). Nhà nước cũng khuyến khích bảo hiểm y tế tư nhân nhằm chia sẻ gánh nặng và tăng lựa chọn cho người dân. Đây là sự kết hợp công/tư có điều tiết.
Tuy nhiên, chính lĩnh vực chăm sóc người cao tuổi mới đem lại bài học đặc biệt đáng chú ý. Sau khi một Ủy ban điều tra giai đoạn 2018 - 2021 phát hiện nhiều bất cập nghiêm trọng về chất lượng và an toàn, Australia đã ban hành Luật Chăm sóc người cao tuổi mới, có hiệu lực từ ngày 1-11-2025. Đạo luật đặt quyền của người cao tuổi vào trung tâm thông qua các quy định có giá trị ràng buộc pháp lý, đồng thời triển khai chương trình “hỗ trợ tại nhà”, giúp người già được sống và chăm sóc tại gia đình lâu nhất có thể, với mức đóng góp tính theo khả năng chi trả và định mức chi phí.
Nếu khám, chữa bệnh giải quyết những vấn đề y tế cấp tính, thì chăm sóc dài hạn lại hỗ trợ các hoạt động sinh hoạt hằng ngày cho người già yếu. Về bản chất, đây là một nhu cầu khác đòi hỏi cơ chế tài chính riêng. Nhiều quốc gia Đông Á đã sớm nhận ra khoảng trống này.
Nhật Bản, quốc gia có dân số già nhất thế giới với gần 30% dân số trên 65 tuổi, thiết lập chế độ bảo hiểm chăm sóc dài hạn bắt buộc từ năm 2000. Người dân bắt đầu đóng phí từ tuổi 40. Qua các lần điều chỉnh chính sách năm 2005, 2011 và 2014, hệ thống dần được định hướng theo mô hình “chăm sóc tích hợp tại cộng đồng”, ưu tiên dịch vụ tại nhà và tại địa phương thay vì đưa người già vào các cơ sở tập trung.
Hàn Quốc cũng phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn từ năm 2008. Nhưng kinh nghiệm Hàn Quốc đồng thời cho thấy một giới hạn quan trọng. Độ bao phủ rộng không đồng nghĩa với mức bảo đảm đủ. Tỷ lệ nghèo tương đối ở người từ 66 tuổi trở lên vẫn ở mức gần 40%, cao nhất trong các nước OECD. Nếu lương hưu và trợ cấp quá thấp, người già vẫn có thể rơi vào nghèo khó dù đã được bao phủ bởi các chính sách dài hạn.
Singapore lại đi theo một hướng khác và dựa nhiều hơn vào tiết kiệm cá nhân và trách nhiệm gia đình, với sự hỗ trợ có mục tiêu của nhà nước. Người dân tích lũy qua Quỹ Tiết kiệm Trung ương (CPF), trong đó tài khoản y tế MediSave có thể dùng để đóng cả phí bảo hiểm chăm sóc dài hạn CareShield Life. Nhà nước nhờ đó tập trung nguồn lực vào người thu nhập thấp và các nhóm yếu thế.
Gợi mở cho Việt Nam
Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 9-9-2025, của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ra đời đã đặt yêu cầu thích ứng với già hóa dân số và chăm sóc toàn diện sức khỏe người cao tuổi vào một trong những trọng tâm của chính sách y tế trong giai đoạn mới. Từ các kinh nghiệm quốc tế trên, thấy rõ nhiều nội dung của Nghị quyết 72-NQ/TW đang đi đúng hướng, phù hợp với các điều kiện của Việt Nam. Mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2030 và từng bước miễn viện phí theo lộ trình có tinh thần gần với nguyên lý phổ quát của Medicare. Nghị quyết cũng yêu cầu mỗi tỉnh có bệnh viện lão khoa hoặc bệnh viện đa khoa có chuyên khoa lão khoa, phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi, kết hợp cơ sở y tế với cơ sở chăm sóc xã hội và hoàn thiện hệ thống phục hồi chức năng. Đây là những viên gạch cần thiết cho một hệ thống an sinh toàn diện. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cũng gợi mở một số vấn đề cần được tính đến ngay từ bây giờ.

Thứ nhất là thời điểm. Nhật Bản thiết lập bảo hiểm chăm sóc dài hạn từ năm 2000, khi người từ 65 tuổi trở lên mới chiếm khoảng 17% dân số, tức là trước khi bước vào giai đoạn “siêu già”. Việt Nam rất cần xây dựng sớm các trụ cột tài chính cho tuổi già, bao gồm cả hưu trí và chăm sóc dài hạn, ngay khi tỷ lệ người trong độ tuổi lao động còn tương đối cao.
Thứ hai là bài toán “đủ”, không chỉ “bao phủ”. Phần lớn lao động Việt Nam vẫn làm việc trong khu vực phi chính thức và chưa tham gia bảo hiểm xã hội, khiến trụ cột hưu trí còn mỏng. Để tránh nguy cơ nghèo khi về già như kinh nghiệm Hàn Quốc, mở rộng bảo hiểm y tế cần song hành với mở rộng bảo hiểm xã hội, kể cả bảo hiểm xã hội tự nguyện, đồng thời củng cố trợ cấp hưu trí xã hội mà Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã thiết lập như một tấm lưới đáy (áp dụng cho người từ đủ 75 tuổi, hoặc từ đủ 70 tuổi nếu thuộc hộ nghèo, cận nghèo). Về lâu dài, cần tính đến việc hạ dần tuổi hưởng và nâng mức trợ cấp cho tiệm cận chi phí sống tối thiểu như tinh thần Luật sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang được xem xét tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI.
Thứ ba, dù Nghị quyết số 72-NQ/TW tăng cường mạnh mẽ khía cạnh y tế trong chăm sóc người cao tuổi, một cơ chế tài chính riêng cho chăm sóc dài hạn, tách khỏi quỹ bảo hiểm y tế khám, chữa bệnh, vẫn là mắt xích cần được tính đến khi thể chế hóa.
Thứ tư, định hướng phát triển y học gia đình, củng cố y tế cơ sở, đầu tư cho trạm y tế cấp xã và vận hành sổ sức khỏe điện tử chính là hạ tầng cho mô hình “chăm sóc tại cộng đồng”. Đầu tư cho trạm y tế xã có ý nghĩa không kém đầu tư cho các bệnh viện chuyên sâu.
Thứ năm, khi khuyến khích phát triển y tế tư nhân và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập, Việt Nam cũng cần lưu ý bài học từ Australia: Mở rộng cung ứng phải đi liền với kiểm soát chất lượng, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Thứ sáu và cũng là cuối cùng, quá trình chuyển đổi số cần duy trì các kênh truyền thống, thay vì chỉ dựa vào các kênh số hóa, để không bỏ lại phía sau những người cao tuổi chưa quen công nghệ. Đây là nhóm cần an sinh nhất nhưng cũng dễ bị loại trừ nhất.
An sinh cho tuổi già, xét cho cùng, không chỉ là một hợp phần của chính sách y tế, xã hội mà còn là phép thử đối với năng lực thể chế của một quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những nước chuẩn bị sớm, xây dựng đủ các trụ cột tài chính, ưu tiên cộng đồng và gia đình, đồng thời đặt quyền và chất lượng sống của người cao tuổi ở vị trí trung tâm, sẽ có nhiều khả năng hóa giải sức ép của già hóa. Kết quả giờ đây phụ thuộc vào việc thể chế hóa nhanh và trúng, trước khi cửa sổ dân số vàng khép lại.
TS Vũ Minh