Kết nối nguồn lực để du lịch xanh “bén rễ”
Một vùng quê đẹp, một sản vật đặc sắc hay một làng nghề lâu đời mới chỉ là “nguyên liệu” của du lịch xanh. Điều còn thiếu là cách nối những giá trị ấy thành một hành trình đủ hấp dẫn để du khách ở lại lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn và người dân có thêm sinh kế từ chính những gì quê hương mình đang có.

Gia tăng giá trị sản vật địa phương
Với nhiều tiềm năng, Ba Vì là một trong những địa phương đang được lựa chọn để triển khai các dự án phát triển du lịch cộng đồng. Song, cái khó ở địa phương là chưa tạo ra được một hành trình đủ sức giữ chân du khách và tạo nguồn thu bền vững.
Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại nông nghiệp (thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Đoàn Trường Giang cho rằng, một vườn cây đẹp, một làng nghề lâu đời hay một sản phẩm OCOP đặc sắc, nếu khách chỉ đến xem, chụp ảnh rồi ra về thì giá trị khai thác còn hạn chế. Tài nguyên cần được tổ chức thành trải nghiệm có câu chuyện, dịch vụ, khả năng đón khách và kênh tiếp cận thị trường. Điều cần thay đổi là cách đặt câu hỏi, từ chúng ta có gì sang khách cần gì, chúng ta tạo trải nghiệm gì, doanh nghiệp bán được gì và cộng đồng hưởng lợi thế nào. Đây cũng là khoảng trống dễ nhận thấy ở nhiều vùng nông thôn có tiềm năng du lịch xanh.
Đồng quan điểm, Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư Ecohost Bùi Thị Nhàn cho rằng: “Giá trị của sản vật địa phương có thể được nối dài từ nông sản tới câu chuyện, không gian văn hóa, con người, trải nghiệm, ẩm thực, lưu trú, quà tặng, thương hiệu và cuối cùng là khả năng khiến khách quay trở lại”.
Câu chuyện ở Quần Anh, xã Hải Anh (tỉnh Ninh Bình) là một ví dụ đáng học hỏi. Nơi đây có nhà cổ, làng nghề, sản vật, di sản kiến trúc, ẩm thực và đời sống cộng đồng giàu bản sắc. Trước kia, khi từng điểm được khai thác riêng lẻ, du khách chủ yếu ghé qua rồi rời đi. Nhưng nay, những nguồn lực ấy được kết nối lại, một hành trình khác được hình thành. Theo đó, buổi sáng, du khách đạp xe qua Cầu Ngói chợ Lương, thăm nhà cổ, nghe câu chuyện hình thành vùng đất Quần Anh, cùng nghệ nhân làm nước mắm rồi vào bếp chuẩn bị bữa trưa với người dân. Buổi chiều là làng nghề, trà, hát văn, thư pháp. Tối đến, khách nghỉ homestay, giao lưu văn nghệ và mua sản phẩm OCOP làm quà. Những thứ vốn rất quen thuộc với người dân địa phương như món ăn, chai nước mắm, nghề thủ công, câu chuyện của một người cao tuổi khi được đặt đúng chỗ trong hành trình sẽ trở thành một phần của sản phẩm du lịch.
Cách làm ấy gợi ra một hướng đi đáng để tham khảo với những vùng ngoại thành Hà Nội như Ba Vì. Đó là, không nhất thiết phải tạo thêm thật nhiều điểm check-in hay xây thêm những công trình mới. Từ những gì đã có, địa phương có thể tạo nên một hành trình đủ hấp dẫn để giữ chân du khách. Một vùng chè có thể không chỉ bán chè mà còn kể câu chuyện về đất, về người trồng, về cách hái và chế biến. Một nghề thủ công có thể khai thác theo mô hình workshop. Một không gian làng quê có thể được khám phá bằng đạp xe, dạo bộ. Nếu sau một ngày trải nghiệm, khách còn có lý do ở lại qua đêm thì chuỗi giá trị tiếp tục mở rộng sang lưu trú, ẩm thực và dịch vụ.
Gìn giữ, nuôi dưỡng hệ sinh thái điểm đến
Theo Viện trưởng Viện Phát triển Du lịch Châu Á Phạm Hải Quỳnh, “xanh hóa sinh kế” không dừng ở những hoạt động bảo vệ môi trường mang tính bề nổi như nhặt rác hay trồng cây. Cốt lõi là đưa các hoạt động sản xuất truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp dần chuyển theo hướng sinh thái, hữu cơ, giảm phát thải, đồng thời biến chính quá trình sản xuất ấy thành trải nghiệm du lịch có giá trị gia tăng cao.
Tại Long Cốc (tỉnh Phú Thọ), nơi những đồi chè nối tiếp nhau tạo nên cảnh quan đặc sắc, mô hình phát triển theo hướng Net Zero đặt mục tiêu vừa khai thác du lịch, vừa bảo tồn không gian đồi chè. Cùng với homestay nhà sàn Mường, trải nghiệm sao chè thủ công, mô hình thực hiện hạn chế nhựa dùng một lần và xây dựng quy tắc để các hộ “cùng quản trị - cùng chia sẻ - cùng bảo vệ thương hiệu”. Như vậy, giá trị của chè không chỉ nằm ở sản lượng bán ra theo cân, mà người trồng chè có thể tạo thêm giá trị từ một buổi trải nghiệm, một chén trà, một bữa ăn, một đêm lưu trú. Khi sinh kế được tạo ra từ chính việc gìn giữ cảnh quan và nghề truyền thống, người dân cũng có thêm lý do để bảo vệ tài nguyên lâu dài.
Đồng quan điểm, PGS.TS Mai Quang Vinh, Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, Viện trưởng Viện Công nghệ Xanh cho rằng: “Chúng ta cần chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên du lịch sang nuôi dưỡng hệ sinh thái điểm đến. Thiên nhiên là giới hạn nền tảng, cộng đồng là chủ thể, văn hóa là nguồn sống, hạ tầng chỉ là phương tiện hỗ trợ”. Thành công của du lịch cộng đồng vì thế không chỉ được nhìn qua số lượng khách, mà còn cần được đo bằng việc thiên nhiên có được bảo vệ tốt hơn, văn hóa có thêm người tiếp nối và người dân có thể sống tự chủ hơn trên chính quê hương mình.
Điều đó đặt ra một yêu cầu khá rõ đối với du lịch xanh không phải đưa càng nhiều khách về nông thôn càng tốt, mà là tạo ra một lượng khách phù hợp, một trải nghiệm đủ sâu và một chuỗi giá trị đủ cân bằng để tài nguyên không bị đánh đổi lấy tăng trưởng ngắn hạn. Khi đó, một chuyến đi về vùng quê không khép lại lúc du khách trở lại thành phố, mà còn được nối dài trong những câu chuyện văn hóa và chuyển thành mong muốn được trở lại, thêm một lần sống chậm giữa miền xanh ấy.
Phương Bùi