hanoimoi.vn

Nông nghiệp

Gạo Việt bước vào cuộc đua xanh

Hoàng Văn

Sau gần 3 năm ngành Nông nghiệp triển khai Đề án 1 triệu héc ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp, đến nay, diện tích canh tác theo Đề án đã đạt hơn 420.800ha với khoảng 175.000 hộ dân tham gia. Một số mô hình đã giảm 30-50% lượng giống gieo sạ, 20-30% phân bón hóa học, tiết kiệm 20-40% nước tưới; lợi nhuận tăng từ 1,5 đến 9,3 triệu đồng/ha/vụ.

gao-viet2.jpg
Ảnh minh họa.

Những kết quả trên cho thấy sản xuất xanh có thể đồng thời mang lại lợi ích kinh tế và môi trường. Tuy nhiên, hơn 420.800ha triển khai theo Đề án không đồng nghĩa với từng ấy diện tích đã đạt chuẩn phát thải thấp. Muốn gạo Việt tạo dựng vị thế mới, chuyển đổi phải đi từ mô hình trình diễn đến quy trình sản xuất đồng bộ và được thị trường công nhận.

Việc những lô gạo đầu tiên mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” được xuất khẩu là dấu mốc đáng ghi nhận. Nhưng đây chỉ là bước khởi đầu; xây dựng được thương hiệu có sức cạnh tranh lâu dài mới là mục tiêu bền vững. Bởi, thị trường không thể chỉ dựa vào lời quảng bá để xác định một sản phẩm xanh. Quá trình canh tác phải có dữ liệu về giống, phân bón, nước tưới và các yếu tố liên quan đến phát thải khí nhà kính. Kết quả giảm phát thải cần được đo đạc, báo cáo và thẩm định theo quy trình phù hợp. Thiếu những căn cứ ấy, thương hiệu rất dễ dừng ở hình thức, khó tạo dựng niềm tin với đối tác và người tiêu dùng.

Thách thức còn nằm ở tổ chức sản xuất. Nông dân có thể giảm vật tư, thay đổi kỹ thuật, nhưng nếu phải tự ghi chép dữ liệu, tự gánh chi phí chuyển đổi và vẫn đối mặt với đầu ra bấp bênh, động lực tham gia khó bền vững. Hợp tác xã thiếu năng lực quản lý vùng nguyên liệu, doanh nghiệp không duy trì liên kết thu mua, hạ tầng thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu thì quy trình xanh khó mở rộng. Do đó, không thể lấy diện tích đăng ký làm thước đo cho thành công. Thước đo thực chất phải là diện tích thực hiện đầy đủ quy trình, mức giảm phát thải được xác nhận, hiệu quả kinh tế tăng lên và đầu ra được bảo đảm.

Để nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” phát triển bền vững, ngành Nông nghiệp cần chuyển trọng tâm triển khai Đề án từ mở rộng diện tích sang nâng cao chất lượng thực hiện. Với hơn 420.800ha canh tác theo Đề án, nhiệm vụ đặt ra là phân loại rõ diện tích đã triển khai đầy đủ quy trình và diện tích mới áp dụng. Không nên chạy theo chỉ tiêu diện tích trong khi năng lực quản lý nước, xử lý phụ phẩm và kiểm soát phát thải chưa theo kịp.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần sớm xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá thống nhất, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một cách, khó tổng hợp và thiếu căn cứ so sánh. Kết quả phải được đo bằng hiệu quả thực tế. Hơn nữa, phải coi hạ tầng là điều kiện quyết định để nhân rộng diện tích lúa phát thải thấp. Các địa phương cần rà soát nhu cầu đầu tư theo từng vùng sản xuất, ưu tiên công trình thủy lợi, giao thông nội đồng, thiết bị phục vụ canh tác và xử lý phụ phẩm…

Trung tâm Khuyến nông quốc gia, cơ quan chuyên môn địa phương và các viện nghiên cứu cần phối hợp xây dựng quy trình phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước của từng vùng triển khai Đề án. Nông dân cần được hướng dẫn cụ thể cách giảm lượng giống, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý nước, xử lý rơm rạ và ghi chép nhật ký đồng ruộng. Cơ quan chuyên môn cần hướng dẫn cách thu thập, chuẩn hóa và kiểm tra dữ liệu; hợp tác xã tổ chức ghi chép thống nhất; doanh nghiệp phối hợp truy xuất nguồn gốc. Việc tính toán mức giảm phát thải cần có phương pháp rõ ràng, dữ liệu đủ tin cậy và đơn vị chuyên môn hỗ trợ. Đây là nền tảng để nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” có sức thuyết phục, thay vì chỉ tạo khác biệt về hình thức bao bì.

Đặc biệt, phải củng cố liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trên nguyên tắc lợi ích cùng hưởng và rủi ro cùng chia sẻ. Hợp tác xã cần được nâng cao năng lực tổ chức vùng nguyên liệu, cung ứng dịch vụ kỹ thuật, quản lý dữ liệu và thương lượng với doanh nghiệp. Doanh nghiệp tham gia chuỗi phải gắn thu mua với tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và cơ chế khuyến khích sản xuất xanh. Nhà nước cần có chính sách tín dụng, hỗ trợ đầu tư thiết bị, đào tạo và phát triển thị trường phù hợp.

Phát triển thương hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” phải đi cùng xúc tiến thương mại và kiểm soát chất lượng. Hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan quản lý cần phối hợp quảng bá trên cơ sở tiêu chuẩn minh bạch, thông tin truy xuất rõ ràng và kết quả môi trường có thể kiểm chứng. Cần tránh tình trạng gắn nhãn xanh khi chưa đủ căn cứ, bởi một cam kết thiếu bằng chứng có thể làm tổn hại uy tín của cả ngành hàng. Muốn hạt gạo Việt có chỗ đứng vững chắc trong cuộc đua xanh phải biến quy trình thành năng lực sản xuất, dữ liệu thành bằng chứng và liên kết thành lợi ích thực chất.

Hoàng Văn

Hoàng Văn