Để khoa học thực sự đi vào trang trại
Trước sức ép về chi phí, dịch bệnh và yêu cầu giảm phát thải, ứng dụng khoa học, công nghệ là hướng đi tất yếu để nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Tuy nhiên, thách thức không chỉ là phát triển công nghệ mới mà còn phải đưa được tiến bộ nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất.
Từ cải tiến giống đến tối ưu dinh dưỡng
Ngành chăn nuôi đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp, chi phí đầu vào tăng, tài nguyên hạn chế và tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe, khoa học, công nghệ được xác định là động lực quan trọng. Những vấn đề đặt ra tại Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Úc lần thứ 21 (AAAP 2026), diễn ra tại Hà Nội từ ngày 28 đến 31-10 cho thấy, nhiều giải pháp đã được nghiên cứu, song bài toán lớn là khả năng ứng dụng rộng rãi vào sản xuất.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, chăn nuôi đóng góp khoảng 27% GDP ngành nông nghiệp, cơ bản đáp ứng nhu cầu thực phẩm trong nước và bước đầu tham gia xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành vẫn đối mặt với nhiều thách thức về dịch bệnh, biến đổi khí hậu, chi phí đầu vào, an toàn thực phẩm và yêu cầu giảm phát thải.
Đáng chú ý, giai đoạn 2020-2025, tỷ trọng chăn nuôi lợn của khu vực nông hộ giảm từ 70% xuống dưới 30% tổng đàn, cho thấy áp lực cạnh tranh ngày càng lớn đối với các hộ sản xuất nhỏ lẻ. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, ngành cần đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và người chăn nuôi để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Tại AAAP 2026, GS Julius van der Werf, Đại học New England (Australia), dẫn chứng kinh nghiệm cải tiến di truyền trong 50 năm qua tại Australia. Với quy mô đàn bò thịt gần như không thay đổi, sản lượng thịt đã tăng khoảng 30-40%, trong khi lượng thức ăn và khí methane tính trên mỗi ki-lô-gam thịt giảm đáng kể.
Theo chuyên gia này, chọn giống hiện đại không đơn thuần hướng tới tạo ra vật nuôi phát thải ít methane hơn mà cần cân bằng giữa năng suất, hiệu quả sử dụng thức ăn và tác động môi trường. Tuy nhiên, nhiều chương trình chọn giống tại các nước đang phát triển chưa đạt hiệu quả do thiếu hệ thống thu thập dữ liệu và cơ sở dữ liệu tập trung. Việc bảo tồn giống bản địa cũng cần gắn với chọn lọc, cải thiện năng suất để nâng cao giá trị kinh tế và khuyến khích người dân duy trì sản xuất.
Ở lĩnh vực dinh dưỡng, GS Ermias Kebreab, Đại học California, Davis (Hoa Kỳ), giới thiệu công cụ RationSmart trên điện thoại di động, hỗ trợ tính toán khẩu phần thức ăn tối ưu và ước tính lượng methane phát thải đối với bò sữa nhiệt đới. Công cụ được phát triển cùng các đối tác tại châu Á và châu Phi, trong đó có Việt Nam, dự kiến đưa vào sử dụng từ cuối năm 2026.
GS Ermias Kebreab cho biết, kết hợp con giống có đặc tính phát thải thấp với các giải pháp dinh dưỡng và phụ gia thức ăn như 3-NOP có thể giúp giảm khoảng 37% lượng methane. Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được ứng dụng trên quy mô lớn, có chính sách khuyến khích phù hợp và bảo đảm lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi.

Thu hẹp khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất
Những tiến bộ được giới thiệu tại AAAP 2026 cho thấy, khoa học chăn nuôi đang chuyển từ mục tiêu gia tăng sản lượng đơn thuần sang tối ưu hóa toàn bộ quá trình sản xuất. Từ chọn giống, dinh dưỡng, quản lý sức khỏe vật nuôi đến xử lý chất thải và quản trị trang trại, công nghệ có thể nâng cao hiệu quả toàn chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận công nghệ giữa các nhóm sản xuất còn chênh lệch. Trong khi doanh nghiệp lớn có điều kiện đầu tư chuồng trại tự động, cảm biến giám sát môi trường và phần mềm quản lý đàn, nhiều hộ chăn nuôi vẫn gặp khó khăn về vốn, nhân lực và kiến thức kỹ thuật. Nếu thiếu cơ chế hỗ trợ, tiến bộ khoa học có nguy cơ chỉ tập trung ở một bộ phận doanh nghiệp, chưa tạo được chuyển biến rộng khắp.
GS.TS Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, ngành chăn nuôi cần chuyển từ tư duy tập trung vào sản lượng sang nâng cao hiệu quả và giá trị; từ xử lý sự cố sang chủ động phòng ngừa rủi ro. Các ưu tiên quan trọng là phát triển giống, dinh dưỡng, tăng cường sức khỏe và phúc lợi vật nuôi, thúc đẩy chăn nuôi tuần hoàn, giảm phát thải và ứng dụng công nghệ số trên toàn chuỗi giá trị. Đặc biệt, cần bảo đảm cơ hội tiếp cận tiến bộ khoa học cho nông hộ nhỏ và hợp tác xã.
GS.TS Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh, thành công của quá trình chuyển đổi không thể chỉ đo bằng số lượng công nghệ mới được giới thiệu mà phải được đánh giá bằng số mô hình thực sự được triển khai và số người chăn nuôi được cải thiện sinh kế.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, nhận định, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, phát thải khí nhà kính và sự cạnh tranh giữa các tập đoàn lớn với khu vực nông hộ đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới mô hình sản xuất. Cuộc cách mạng số và trí tuệ nhân tạo cũng tác động sâu sắc đến hoạt động chăn nuôi, đòi hỏi ngành phải nâng cao năng lực thích ứng và tăng cường hợp tác giữa các bên.
Để khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực phát triển, cần tăng cường liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và người chăn nuôi; xây dựng các mô hình trình diễn, chuyển giao kỹ thuật phù hợp với từng quy mô sản xuất. Cùng với đó là hoàn thiện cơ chế hỗ trợ vốn, đào tạo nhân lực và khuyến khích đổi mới công nghệ, tạo động lực kinh tế cho các mô hình chăn nuôi xanh.
Với 14 nhóm chuyên đề khoa học, AAAP 2026 tạo cơ hội để ngành chăn nuôi Việt Nam tiếp cận những thành tựu mới về giống, dinh dưỡng, sức khỏe vật nuôi, môi trường và quản trị trang trại thông minh. Thông điệp Hà Nội về “Chăn nuôi bền vững” cũng hướng tới thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tuần hoàn và tăng cường hợp tác đa bên.
Phương Nga