Xây dựng "lá chắn" sức khỏe tâm thần cho phụ nữ và trẻ em trên môi trường số
Sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội và các thiết bị kỹ thuật số đang mở ra vô vàn cơ hội học tập, kết nối và việc làm cho phụ nữ, trẻ em. Tuy nhiên, cùng với những tiện ích ấy, không gian mạng cũng âm thầm đẩy không ít người vào vòng xoáy lo âu, cô đơn và lệ thuộc. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới tư duy trong bảo vệ sức khỏe tinh thần.
Để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, các chuyên gia khẳng định công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cần chuyển dịch mạnh mẽ từ "chữa bệnh" sang "phòng bệnh", chủ động phát hiện và hỗ trợ sớm ngay từ gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Những tổn thương khó nhận diện trong kỷ nguyên số
Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/09/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân đã xác định người dân là chủ thể trung tâm, đồng thời nhấn mạnh việc quan tâm đặc biệt đến trẻ em, người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội và bảo đảm bình đẳng giới.
Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra công tác chăm sóc sức khỏe cho người yếu thế thời gian qua chưa được quan tâm đầy đủ; từ đó yêu cầu chú trọng chăm sóc sức khỏe tâm thần, tạo môi trường sống, làm việc, học tập cân bằng, giảm áp lực, xây dựng các mô hình trường học và nơi làm việc an toàn, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tư vấn sức khỏe cho trẻ em và thanh niên.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, tổn thương tinh thần của phụ nữ và trẻ em ngày càng đa dạng và khó nhận diện. Khảo sát của TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh (Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) trên 624 học sinh THPT tại Hà Nội cho thấy, 21,8% em có mức độ sử dụng Internet có vấn đề vượt ngưỡng sàng lọc.
Biểu hiện nổi bật không phải là bỏ bạn bè hay sa sút học tập ngay lập tức, mà là sự mất kiểm soát thời gian, thường xuyên vào mạng lâu hơn dự định và không thể tự cắt giảm. Tỷ lệ này cao hơn ở học sinh lớp 12, lứa tuổi chịu áp lực thi cử lớn nhất, và những em từng bị nhắc nhở, kỷ luật tại trường. Nhiều em còn có xu hướng giữ bí mật về hoạt động trực tuyến, khiến cha mẹ rất khó nắm bắt.
Ở bậc đại học, bức tranh cũng không mấy khả quan. Nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Phương (Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội) trên 192 nữ sinh viên ghi nhận 21,9% có nguy cơ nghiện mạng xã hội, và gần 1/3 dành hơn 6 giờ mỗi ngày cho các nền tảng này. Nguy cơ nghiện mạng gắn chặt với khó khăn trong việc nhận diện, diễn đạt cảm xúc và cảm giác cô đơn. Khi không thể gọi tên nỗi buồn của mình, nhiều bạn trẻ tìm đến thế giới ảo để khỏa lấp, nhưng càng dựa vào kết nối ảo, các em lại càng dễ thu mình ngoài đời thực.
Đối với phụ nữ, gánh nặng tâm lý còn mang màu sắc giới rõ rệt do áp lực lao động, trách nhiệm chăm sóc gia đình, bạo lực và điều kiện kinh tế - xã hội. Môi trường số khiến thách thức thêm phức tạp. Điển hình như nhóm lao động nữ làm việc qua các nền tảng số (giao hàng, giúp việc theo giờ), họ đang chịu sức ép lớn từ thuật toán giám sát, xếp hạng, nguy cơ bị khóa tài khoản không rõ lý do, thu nhập bấp bênh, bị quấy rối qua tin nhắn và luôn thiếu thời gian hồi phục khi vừa "chạy đơn" vừa chăm con.
Điều đáng lo ngại là phần lớn tổn thương ấy vẫn đang "vô hình". Nghiên cứu của ThS Hồ Hoàng Phương (Trường Đại học công nghệ TP Hồ Chí Minh) và cộng sự trên 221 phụ nữ trưởng thành cho thấy, 76% chưa từng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần. Tâm lý tự kỳ thị, cho rằng tìm đến chuyên gia tâm lý là yếu đuối, khiến nhiều người chọn cách tự chịu đựng thay vì tìm kiếm sự trợ giúp.
Chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở
Một trong những quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Nghị quyết 72-NQ/TW là chuyển mạnh tư duy từ khám chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Đối với lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nơi hầu hết các tổn thương cần được nhận diện trước khi trở thành khủng hoảng, định hướng này càng mang ý nghĩa quyết định.

Trước hết, cần thay đổi cách tiếp cận trong gia đình và nhà trường. Theo TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh, thay vì chỉ cấm đoán hay áp đặt thời gian dùng điện thoại vốn chỉ giải quyết phần ngọn, cần tập trung phát hiện sớm các khó khăn về tự điều chỉnh và quản lý thời gian của học sinh. Những em thường xuyên bị nhắc nhở hay kỷ luật cần được xem là tín hiệu cần hỗ trợ, thay vì chỉ là đối tượng bị xử lý.
Cùng góc nhìn này, nhóm nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Phương kiến nghị các trường đại học đẩy mạnh tư vấn, trang bị kỹ năng giúp sinh viên nhận biết, gọi tên và chia sẻ cảm xúc, đồng thời phát triển các câu lạc bộ và hoạt động ngoại khóa để tăng cường kết nối thực tế. Bên cạnh đó, việc gỡ bỏ rào cản kỳ thị và nâng cao năng lực số trong chăm sóc sức khỏe là yếu tố then chốt.
ThS Hồ Hoàng Phương cho rằng, các chương trình hỗ trợ tâm lý cần giúp người dân giảm tâm lý tự kỳ thị, đồng thời nâng cao khả năng tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin sức khỏe trực tuyến đáng tin cậy. Khi phụ nữ tiếp cận đúng nguồn thông tin và dịch vụ, khoảng cách giữa "cần trợ giúp" và "chủ động tìm trợ giúp" sẽ được rút ngắn, đáp ứng yêu cầu nâng cao kiến thức sức khỏe kỹ thuật số của Nghị quyết 72-NQ/TW.
Ở góc độ thể chế, các chuyên gia pháp luật kiến nghị đối với nhóm lao động nữ trên nền tảng số: cần xác định quan hệ lao động dựa trên mức độ kiểm soát thực tế; đưa rủi ro tâm lý - xã hội vào diện bắt buộc đánh giá; đảm bảo quyền được giải thích và yêu cầu con người xem xét lại các quyết định của thuật toán; đồng thời thiết lập "quyền ngắt kết nối" và chính sách an sinh linh hoạt. Sức khỏe tâm thần phải được coi là vấn đề của thiết kế và tổ chức công việc, chứ không chỉ là năng lực thích nghi cá nhân.
Để các chính sách đi đúng và trúng, Giám đốc Học viện Phụ nữ Việt Nam PGS. TS Trần Quang Tiến lưu ý cần nâng cao chất lượng và chuẩn hóa dữ liệu. Việc phân biệt rõ giữa sức khỏe tâm thần tích cực, khó khăn tâm lý và rối loạn tâm thần chuẩn đoán là rất cần thiết, cùng với việc đánh giá nghiêm túc hiệu quả của các mô hình can thiệp đang triển khai.
Chăm sóc sức khỏe tâm thần cho phụ nữ và trẻ em không thể là nhiệm vụ đơn độc của ngành y tế. Đó phải là một hệ thống hỗ trợ đồng bộ, có sự vào cuộc sát sao và phân định rõ trách nhiệm giữa gia đình, nhà trường, doanh nghiệp, các nền tảng công nghệ, Hội Liên hiệp Phụ nữ và cơ quan quản lý. Khi hệ sinh thái đó được vận hành hiệu quả, tinh thần Nghị quyết 72-NQ/TW mới thực sự đi vào cuộc sống, bảo vệ vững chắc sức khỏe tinh thần cho phụ nữ và thế hệ tương lai ngay từ cơ sở.
Nhóm PV