Tái thiết đô thị Hà Nội: Trao quyền phải đi đôi với giám sát
Luật Thủ đô năm 2026 và Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố Hà Nội mở ra những cơ chế mới, tạo thêm dư địa cho công tác cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.
Phóng viên Cơ quan Báo & Phát thanh, Truyền hình Hà Nội đã có cuộc trao đổi với Luật sư Nguyễn Hưng Quang, Trưởng Văn phòng Luật sư NHQuang & Cộng sự, Chủ tịch Trung tâm Hòa giải thương mại quốc tế Việt Nam (VICMC) về những cơ chế mới này, cũng như yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát trong quá trình thực hiện.

Mở rộng thẩm quyền, tháo gỡ vướng mắc trong tái thiết đô thị
Thưa ông, với những thẩm quyền mới được quy định trong Luật Thủ đô năm 2026, Hà Nội có thêm quyền chủ động như thế nào trong quyết định chính sách, tiêu chí cải tạo, chỉnh trang và tái thiết đô thị? Những thay đổi này có thể tháo gỡ vướng mắc ở khâu nào trong quá trình triển khai dự án?
- Luật Thủ đô năm 2026 giao cho Hà Nội 199 thẩm quyền đặc thù, gồm 127 thẩm quyền của HĐND Thành phố, 56 thẩm quyền của UBND Thành phố và 16 thẩm quyền của Chủ tịch UBND Thành phố.

Đối với cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị, Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND của HĐND Thành phố, ban hành ngày 15-6-2026 để thực hiện điểm a, b, c khoản 2 Điều 12 Luật Thủ đô 2026, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026 (Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND), quy định một số cơ chế đáng chú ý:
Về tiêu chí, Điều 4 của Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND xác định các khu vực có công trình nguy hiểm, xuống cấp; khoảng cách và kết cấu không đạt quy chuẩn xây dựng, phòng cháy, chữa cháy; cơ sở phải di dời; khu vực thiếu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của đơn vị ở hoặc có dân số vượt tiêu chuẩn; khu vực không phù hợp quy hoạch; khu vực có công trình giá trị cần bảo vệ.
Điều 11 của Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND quy định phương án bồi thường, tái định cư được thông qua nếu có từ 51% chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất trở lên tán thành và được UBND cấp xã xác nhận; mỗi căn hộ hoặc thửa đất tính một phiếu. Thời hạn lấy ý kiến tối đa là 12 tháng, được gia hạn không quá 6 tháng trong trường hợp bất khả kháng.
Trường hợp chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tự đề xuất nhà đầu tư thực hiện dự án thì phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bố trí tạm cư trong đó có bao gồm hệ số K do nhà đầu tư và các chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất tự thỏa thuận. Đối với trường hợp nhà chung cư, chủ sở hữu được bồi thường hệ số K do chủ đầu tư dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư và chủ sở hữu nhà tự thỏa thuận nhưng không vượt quá 2,0 lần diện tích sử dụng căn hộ hợp pháp. Nếu không thỏa thuận được, áp dụng mức 1 lần đối với diện tích từ tầng 2 trở lên và 1,2 lần đối với tầng 1; lợi nhuận định mức tối đa của chủ đầu tư là 15%.
Nghị quyết cũng quy định chế tài đối với chủ đầu tư chậm triển khai. Theo Điều 12 và Điều 13 Nghị quyết, Chủ tịch UBND Thành phố thu hồi quyết định giao chủ đầu tư, chủ đầu tư không được hoàn lại chi phí đã chi. Thành phố sau đó thu hồi đất để thực hiện bằng vốn đầu tư công hoặc đấu giá.
Về tạm cư, Thành phố hỗ trợ 100% tiền thuê nhà trong thời gian tối đa 3 năm và 50% trong năm thứ tư đến năm thứ năm. Về kiểm định, kết quả kiểm định gần nhất được kế thừa không giới hạn thời gian; khi kiểm định cả khu, chỉ cần kiểm định đại diện các nhà có dấu hiệu thuộc diện phá dỡ.
Ngoài ra, Điều 15 Nghị quyết quy định về khu đô thị đa mục tiêu, theo đó thành phố tạo quỹ nhà ở xã hội, tái định cư, công vụ và thương mại phục vụ cải tạo; UBND được điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, nhà ở và chỉ tiêu quy hoạch.
Đối với các dự án cải tạo, chỉnh trang đô thị đã thực hiện thủ tục lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án thì tiếp tục thực hiện theo quy định trước ngày Nghị quyết 66/2026/NQ-HĐND có hiệu lực thi hành (ngày 1/7/2026). Đối với các dự án đang lập hoặc chưa duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết thì phải dừng lại việc triển khai. UBND Thành phố phải đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết với HĐND Thành phố hằng năm; HĐND Thành phố và MTTQ giám sát quá trình thực hiện.
Khi quyền chủ động của Thành phố được mở rộng, trách nhiệm giải trình của các cơ quan thực hiện cần được đặt ra như thế nào để bảo đảm các quyết định tái thiết đô thị đúng quy định pháp luật, minh bạch và có căn cứ rõ ràng?
- Luật Thủ đô 2026 xác định yêu cầu bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực; đồng thời có cơ chế theo dõi, kiểm tra và điều chỉnh việc phân quyền khi thực hiện không hiệu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật.
Trước khi ban hành văn bản quy định khác với Trung ương, cơ quan thành phố phải đánh giá sự cần thiết, xác định mục tiêu và kết quả dự kiến, nêu rõ cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình, đánh giá tác động chính sách, tham vấn Trung ương và các đối tượng chịu tác động, công khai việc tiếp thu, giải trình và không sử dụng thủ tục rút gọn. Nội dung này được quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Thủ đô 2026 và được quy định cụ thể tại Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND quy định một số nội dung về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thi hành Luật Thủ đô 2026.
Chương VIII, từ Điều 31 đến Điều 34 của Luật Thủ đô 2026, quy định về giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình. Theo đó, Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội giám sát việc thực hiện cơ chế đặc thù; Chính phủ tổ chức theo dõi, kiểm tra, thanh tra để bảo đảm việc phân quyền được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật.
Chính quyền Thành phố phải công khai, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình về sử dụng quỹ đất, dự án đầu tư, thủ tục hành chính để nhân dân biết, tham gia ý kiến và giám sát. Nội dung giải trình phải được công khai. Luật cũng quy định xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, trục lợi, nhũng nhiễu; đồng thời loại trừ trách nhiệm pháp lý đối với người không vụ lợi, thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhưng vẫn xảy ra thiệt hại theo quy định.
Đối với các dự án chậm triển khai, khoản 6 Điều 22 của Luật Thủ đô 2026 cho phép HĐND Thành phố đặt ra biện pháp đặc biệt với những điều kiện chặt chẽ: phải có kết luận thanh tra hoặc bản án, phân loại dự án theo nguyên nhân chậm, công khai đầy đủ thông tin và quyết định xử lý, báo cáo Chính phủ hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước ngày 31-12 hằng năm, đồng thời không được hợp thức hóa sai phạm.
Ngoài ra, Nghị quyết số 66/2025/NQ-HĐND yêu cầu UBND Thành phố phải công bố công khai các khu vực cần cải tạo cùng ranh giới và chỉ tiêu dự kiến; công khai dữ liệu TOD, danh mục dự án, nghĩa vụ của nhà đầu tư và tiến độ thực hiện; báo cáo kết quả với HĐND Thành phố hằng năm. HĐND Thành phố và MTTQ thực hiện giám sát. Việc giao chủ đầu tư có tổ đánh giá liên ngành thẩm định hồ sơ. Các chỉ tiêu quy hoạch vượt quy chuẩn phải qua cơ chế thẩm định độc lập và đánh giá tác động về giao thông, hạ tầng, xã hội, môi trường.
Theo tôi, Hà Nội cần ban hành quy chế công khai hồ sơ dự án hoặc xây dựng hệ thống dữ liệu công khai cụ thể đối với các dự án chỉnh trang, tái thiết đô thị, để người dân có thể kiểm tra, giám sát theo các quyền đã được quy định trong Luật Thủ đô 2026 và các quy định pháp luật có liên quan.
Giám sát phải gắn với kết quả và trách nhiệm cá nhân
Theo ông, cần có những cơ chế giám sát nào để bảo đảm thẩm quyền mới không chỉ tạo thuận lợi cho việc triển khai dự án, mà còn gắn với trách nhiệm của cơ quan quản lý trong quá trình thực hiện?
- Nguyên tắc nên là mỗi quyền của Thành phố được giao theo Luật Thủ đô năm 2026 cần đi kèm một biện pháp giám sát cụ thể; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm đến khi dự án có kết quả, không chỉ đến khi dự án được phê duyệt.

Luật Thủ đô 2026 và Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND đã có nhiều công cụ cho việc này.
Thứ nhất là cơ chế giám sát nhiều tầng, gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ và các bộ. Chính phủ tổ chức theo dõi, kiểm tra, thanh tra việc thi hành Luật để bảo đảm việc phân quyền được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật.
Thứ hai là giám sát việc phân quyền. Luật yêu cầu có cơ chế theo dõi, đánh giá, kiểm tra và kịp thời điều chỉnh nội dung phân quyền khi cơ quan được phân quyền thực hiện không hiệu quả theo khoản 4 Điều 4 của Luật Thủ đô 2026. Nếu chính quyền Thành phố muốn áp dụng cơ chế thí điểm, UBND Thành phố phải báo cáo hằng năm, đánh giá kết quả và tạm dừng thí điểm khi có ảnh hưởng tiêu cực vượt mức dự báo theo khoản 5 Điều 9 Luật Thủ đô 2026.
Thứ ba là giám sát tại chỗ theo Nghị quyết số 66. UBND Thành phố phải đánh giá, báo cáo HĐND Thành phố hằng năm và kịp thời tổng hợp vướng mắc để HĐND sửa đổi hoặc thay thế nghị quyết. HĐND các cấp và Mặt trận Tổ quốc giám sát việc thực hiện. Nguồn thu từ phát triển TOD phải được công khai, hạch toán riêng và chịu sự giám sát của HĐND.
Thứ tư là chế tài và cơ chế miễn trách nhiệm. Luật quy định xử lý nghiêm hành vi tham nhũng, trục lợi, nhũng nhiễu; chỉ miễn trách nhiệm cho người không vụ lợi, thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo Điều 34. Điều này đòi hỏi hồ sơ phải chứng minh được quy trình thực hiện, qua đó đặt ra yêu cầu lưu trữ đầy đủ hồ sơ của người ra quyết định.
Để các cơ chế trên phát huy hiệu quả, cần chú ý 4 nguyên tắc thiết kế giám sát.
Một là, tách người thực hiện, người thẩm định và người giám sát. Theo Nghị quyết số 66/2026/NQ-HĐND, Sở Xây dựng vừa chủ trì lập danh mục dự án, vừa mời nhà đầu tư, đồng thời là cơ quan thường trực của tổ đánh giá liên ngành đề xuất giao chủ đầu tư. Việc tập trung nhiều vai trò vào một đầu mối thuận lợi cho tiến độ nhưng làm giảm khả năng tự kiểm soát. Cần có đơn vị khác, chẳng hạn Sở Tư pháp, cơ quan thanh tra hoặc hội đồng thẩm định độc lập, chịu trách nhiệm kiểm tra.
Hai là, giám sát phải có dữ liệu thực chất. Cần có bảng chỉ số công khai về tỷ lệ dự án đúng tiến độ, số khiếu nại, tỷ lệ tái định cư tại chỗ, chỉ tiêu hạ tầng xã hội trước và sau cải tạo, giá trị tăng thêm của đất so với lợi nhuận chủ đầu tư. Cơ quan được giám sát phải trả lời bằng văn bản trong thời hạn nhất định.
Ba là, giám sát phải dẫn đến hệ quả và dựa trên kết quả. Pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND Thành phố yêu cầu người đứng đầu cơ quan chịu giám sát trực tiếp báo cáo, giải trình; chủ thể giám sát phải chịu trách nhiệm về kết luận của mình. Từ đó, cần có ngưỡng kích hoạt, chẳng hạn khiếu nại vượt tỷ lệ nào hoặc chậm tiến độ bao lâu thì dự án phải dừng để rà soát, theo tinh thần khoản 4 Điều 4 và khoản 5 Điều 9 Luật Thủ đô 2026.
Bốn là, gắn kết quả với trách nhiệm cá nhân. Cần nêu rõ người chịu trách nhiệm cho thủ tục: người phê duyệt danh mục dự án cải tạo chỉnh trang đô thị, người xác nhận kết quả lấy ý kiến, người ký quyết định giao chủ đầu tư; đồng thời đưa kết quả thực hiện vào đánh giá cán bộ. Điều này phù hợp với yêu cầu “6 rõ”: “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm, rõ hiệu quả”.
Xin trân trọng cảm ơn Luật sư!
Lại Tấn thực hiện