hanoimoi.vn

Kinh tế

Ngành tôm Cà Mau tăng trưởng, hướng tới giá trị bền vững

Diệp Hà

Sản xuất, chế biến và xuất khẩu tôm Cà Mau ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực trong 9 tháng năm 2026, tạo nền tảng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển chuỗi ngành tôm bền vững.

Sản lượng tăng, áp lực giá trị gia tăng

Sau ba quý đầu năm 2026, ngành tôm Cà Mau ghi nhận những chuyển động tích cực về sản xuất. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, sản lượng thủy sản nuôi và khai thác đạt 971.130 tấn, trong đó tôm đạt 454.065 tấn, bằng 99,7% kịch bản chín tháng. Diện tích nuôi tôm khoảng 417.800ha.

Tại hội thảo về phát triển ngành tôm nước lợ tổ chức ngày 15-10, cơ quan chuyên môn cho biết riêng sản lượng tôm nuôi đạt khoảng 439.400 tấn, tăng 9,7% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của ngành tôm trong cơ cấu sản xuất thủy sản địa phương, đồng thời tạo nguồn nguyên liệu cho hoạt động chế biến, xuất khẩu.

Ở khâu chế biến, số liệu của Sở Công Thương tỉnh Cà Mau cho thấy, sản lượng tôm và thủy sản khác chế biến trong 9 tháng đạt 305.288 tấn, tăng 16,78% so với cùng kỳ, tương đương 73,42% kế hoạch năm. Đây là chỉ tiêu bao gồm nhiều loại thủy sản, không phải toàn bộ tôm nguyên liệu và cũng không phản ánh trực tiếp hiệu quả lợi nhuận của doanh nghiệp.

Hoạt động xuất khẩu tiếp tục tạo động lực cho sản xuất. Trong tám tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của tỉnh đạt khoảng 1,572 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa chín tháng đạt khoảng 2,09 tỷ USD, tăng 10,55%. Do khác nhau về phạm vi mặt hàng và kỳ thống kê, hai chỉ tiêu này cần được xem xét độc lập khi đánh giá kết quả ngành tôm.

887-202610300952061.jpg
Ứng dụng công nghệ cao trong nuôi tôm góp phần nâng cao năng suất, kiểm soát dịch bệnh và tạo nguồn nguyên liệu chất lượng phục vụ chế biến, xuất khẩu tại Cà Mau. Ảnh: Gia Bách

Ở cấp doanh nghiệp, hai nhà máy Minh Phú Cà Mau và Minh Phú Khánh An ghi nhận kim ngạch xuất khẩu khoảng 250 triệu USD, sản lượng sản xuất 28.300 tấn trong chín tháng, tạo việc làm cho khoảng 11.200 lao động. Những con số này phản ánh quy mô hoạt động chế biến và đóng góp về việc làm, song doanh thu xuất khẩu không đồng nghĩa với lợi nhuận thực nhận.

Trong khi đó, thị trường quốc tế đang có sự phân hóa. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu tôm cả nước đạt khoảng 3,7 tỷ USD sau chín tháng, tăng 11%, nhưng xuất khẩu sang Mỹ giảm 15%, thị trường EU giảm 4,9%, trong khi Trung Quốc tăng mạnh.

Dù đây là số liệu chung của cả nước, diễn biến này cho thấy áp lực cạnh tranh mà các doanh nghiệp xuất khẩu tôm phải tính đến, từ cơ cấu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng đến khả năng duy trì đơn hàng và giá bán.

Ở khâu nuôi trồng, những khó khăn lại xuất phát từ chi phí đầu vào và rủi ro sản xuất. Tại hội thảo ngành tôm nước lợ ngày 15-10, các vấn đề về chất lượng con giống, dịch bệnh, môi trường, giá vật tư và biến động thời tiết tiếp tục được đặt ra.

Giá bán thay đổi theo kích cỡ, chất lượng tôm và thời điểm thu hoạch, trong khi tỷ lệ sống quyết định sản lượng thực tế sau nhiều tháng đầu tư. Một vụ nuôi đạt sản lượng cao chưa chắc mang lại hiệu quả tương ứng nếu chi phí giống, thức ăn, điện và xử lý môi trường tăng.

Đáng chú ý, thống kê sáu tháng đầu năm 2026 ghi nhận 4.751,57 ha nuôi tôm bị thiệt hại, cao hơn cùng kỳ. Dù không đại diện cho kết quả cả chín tháng, số liệu này cho thấy rủi ro mất vốn vẫn hiện hữu trong hoạt động sản xuất. Bởi vậy, đằng sau những con số tăng trưởng, vấn đề cần quan tâm không chỉ là thu hoạch thêm bao nhiêu tấn tôm mà còn là giá trị kinh tế được tạo ra và phân bổ như thế nào giữa người nuôi, đơn vị thu mua và doanh nghiệp chế biến.

Nâng giá trị con tôm từ liên kết chuỗi

Để nâng cao hiệu quả kinh tế, ngành tôm Cà Mau cần bắt đầu từ việc kiểm soát rủi ro tại vùng nuôi, đồng thời củng cố liên kết giữa các khâu sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ.

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát mầm bệnh ngay từ khâu con giống, quản lý môi trường nuôi, nâng tỷ lệ sống, giảm giá thành và tăng cường truy xuất nguồn gốc.

Định hướng này cho thấy nâng cao hiệu quả ngành tôm không thể chỉ dựa vào mở rộng diện tích hoặc tăng mật độ thả nuôi. Chất lượng giống, khả năng kiểm soát dịch bệnh và hiệu quả sử dụng vật tư mới là những yếu tố trực tiếp quyết định chi phí sản xuất.

Đối với các vùng nuôi, việc kết nối dữ liệu kiểm dịch, nguồn giống, thời điểm thả nuôi và diễn biến dịch bệnh có thể giúp nhận diện sớm những khu vực rủi ro. Hoạt động quan trắc môi trường, cảnh báo nguồn nước cũng cần được tổ chức phù hợp để hộ nuôi nhỏ lẻ có khả năng tiếp cận.

887-202610300952062.jpg
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển chế biến sâu là hướng đi quan trọng giúp ngành tôm Cà Mau gia tăng giá trị sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.

Ngày 16-10, Trung tâm Khuyến nông Cà Mau phối hợp các nhà khoa học và doanh nghiệp trao đổi về mô hình nuôi tôm sú hai giai đoạn sử dụng giống gia hóa, gắn với quản lý môi trường. Đây là một hướng kỹ thuật cần tiếp tục đánh giá hiệu quả trên cơ sở tính đủ chi phí đầu tư, tỷ lệ sống, thời gian nuôi và lợi nhuận qua nhiều vụ sản xuất.

Bên cạnh kỹ thuật, liên kết chuỗi được xem là một trong những điều kiện quan trọng để nâng giá trị con tôm. Thông qua hợp tác xã, các hộ nuôi có thể thống nhất lịch thời vụ, quy trình sử dụng vật tư và kế hoạch thu hoạch, qua đó tạo nguồn nguyên liệu đồng đều hơn cho doanh nghiệp.

Về phía doanh nghiệp chế biến, việc tham gia liên kết từ sớm, công khai tiêu chuẩn nguyên liệu, phương thức xác định giá thu mua và cơ chế chia sẻ rủi ro sẽ góp phần xây dựng quan hệ hợp tác ổn định.

Tuy nhiên, liên kết chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi các bên có hợp đồng rõ ràng, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ. Người nuôi cần đầu ra có khả năng dự báo, trong khi doanh nghiệp cần nguồn nguyên liệu đáp ứng yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Ở thị trường xuất khẩu, dư địa nâng cao giá trị còn nằm ở hoạt động chế biến sâu, phát triển sản phẩm theo từng phân khúc và đáp ứng tiêu chuẩn bền vững. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá, doanh nghiệp cần chú trọng các sản phẩm chế biến tiện lợi, chất lượng ổn định, phù hợp nhu cầu tiêu dùng tại những thị trường có giá trị cao.

Đi cùng chế biến sâu là yêu cầu minh bạch nguồn gốc nguyên liệu. Việc kết nối mã số cơ sở nuôi, nhật ký sản xuất, thông tin con giống với dữ liệu thu mua và chế biến sẽ góp phần nâng khả năng kiểm soát chất lượng, đáp ứng các yêu cầu ngày càng chặt chẽ của thị trường nhập khẩu.

Cùng với đó, các chương trình thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tài chính xanh trong ngành tôm cần gắn với hiệu quả sản xuất thực tế. Những giải pháp giảm thất thoát thức ăn, tận dụng phụ phẩm và xử lý chất thải chỉ có thể nhân rộng bền vững khi phù hợp với khả năng đầu tư, vận hành của người nuôi và doanh nghiệp.

Ngành tôm Cà Mau đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhưng lợi thế cạnh tranh lâu dài không chỉ được đo bằng sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu. Quan trọng hơn là khả năng giảm chi phí, nâng chất lượng sản phẩm và cải thiện thu nhập thực nhận của các chủ thể tham gia chuỗi. Khi những yếu tố này cùng chuyển biến, tăng trưởng sản lượng mới thực sự trở thành tăng trưởng có chất lượng.

Diệp Hà