Việt Nam cần đầu tư bài bản cho kinh tế chăm sóc
Gánh nặng chăm sóc gia đình đang hạn chế cơ hội việc làm của phụ nữ, trong khi lao động trong ngành vẫn chịu thiệt thòi về thu nhập và an sinh. Vì vậy, theo chuyên gia Cơ quan Liên hợp quốc vì Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women), Việt Nam cần đầu tư bài bản cho kinh tế chăm sóc, góp phần thúc đẩy bình đẳng giới và bảo đảm việc làm bền vững.
Khoảng trống trong dịch vụ chăm sóc
TS Feroza Sanjana, chuyên gia tư vấn chính sách và Giám sát & Đánh giá (M&E) về Trao quyền kinh tế cho phụ nữ tại Văn phòng UN Women khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho biết tại nhiều nền kinh tế APEC, trong đó có Việt Nam, phụ nữ dành nhiều thời gian hơn nam giới cho công việc chăm sóc không được trả công.

Việc nuôi dạy con cái, hỗ trợ người cao tuổi và chăm sóc thành viên gia đình có thể khiến họ khó tìm việc, phải làm ít giờ hơn hoặc chấp nhận công việc thu nhập thấp. Trách nhiệm chăm sóc trở thành một rào cản đối với quyền năng kinh tế của phụ nữ, TS Feroza trao đổi với Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
“Dân số già hóa càng làm tăng nhu cầu chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật và phục hồi chức năng. Khi dịch vụ xã hội chưa đáp ứng đủ, gia đình phải tự thu xếp, khiến phụ nữ tiếp tục dành nhiều thời gian cho công việc không được trả công”, TS Feroza nhận xét.

Theo số liệu của Bộ Nội Vụ, phụ nữ Việt Nam dành trung bình 15,5 giờ mỗi tuần cho công việc chăm sóc không được trả công, trong khi con số này ở nam giới là 8,75 giờ. Giá trị kinh tế của phần việc ấy ước tính tương đương tới 20% GDP.
Để giảm áp lực cho các gia đình, bà Feroza cho rằng cần phát triển dịch vụ đáp ứng nhu cầu thực tế, từ chăm sóc trẻ nhỏ đến hỗ trợ người cao tuổi và người cần trợ giúp với chất lượng, chi phí phù hợp, thời gian thuận tiện, nhất là cho phụ nữ đang đi làm.
Khoảng trống trong dịch vụ chăm sóc trẻ nhỏ cũng cho thấy những trở ngại mà các gia đình phải đối mặt. Theo phân tích của Ngân hàng Thế giới, khoảng 560.000 trẻ dưới 6 tuổi tại Việt Nam có cha hoặc mẹ làm việc trong các khu công nghiệp, trong khi chỉ 23% cơ sở giáo dục mầm non công lập nhận trẻ dưới 2 tuổi. Thiếu nơi gửi trẻ phù hợp có thể khiến phụ nữ khó duy trì công việc hoặc tìm kiếm vị trí tốt hơn.
Tuy nhiên, bà Feroza lưu ý, Việt Nam cần kết hợp phát triển dịch vụ chăm sóc với các chính sách hỗ trợ phụ nữ nâng cao kỹ năng và tìm kiếm việc làm phù hợp. Khi vừa có điều kiện chăm lo gia đình, vừa tiếp cận được công việc tương xứng với năng lực, phụ nữ mới có thể tăng thu nhập và cải thiện triển vọng nghề nghiệp.
Chuẩn hóa nghề chăm sóc
Bà Feroza Sanjana nhận định dịch vụ chăm sóc phát triển cũng tạo thêm việc làm và cơ hội kinh doanh, trong đó có các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Nếu được hỗ trợ nâng cao năng lực kinh doanh và hoàn thiện dịch vụ, các doanh nghiệp này có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các gia đình, đồng thời tạo thêm cơ hội để phụ nữ tham gia thị trường lao động.
Kinh tế chăm sóc chỉ có thể phát huy đầy đủ tiềm năng khi những người trực tiếp cung cấp dịch vụ cũng được bảo đảm quyền lợi. Số liệu của Bộ Nội vụ cho thấy phụ nữ chiếm 72,8% lực lượng lao động trong các lĩnh vực liên quan đến chăm sóc, nhưng tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội của lao động nữ chỉ đạt 59,3%, thấp hơn mức 80,3% ở nam giới. Thu nhập bình quân của lao động nữ trong nhóm này đạt khoảng 7,5 triệu đồng mỗi tháng, so với 9,6 triệu đồng ở lao động nam.
Chênh lệch về thu nhập và mức độ tham gia bảo hiểm xã hội cho thấy việc mở rộng dịch vụ cần đi cùng nâng cao chất lượng việc làm. Người lao động cần được đào tạo bài bản, có tiêu chuẩn nghề nghiệp rõ ràng, mức lương tương xứng và được bảo đảm an sinh. Khi nghề chăm sóc có điều kiện làm việc tốt hơn và cơ hội phát triển rõ ràng, mới có thể thu hút, giữ chân nhân lực, duy trì chất lượng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội.
Dự án GRACE - Chương trình Phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi hướng tới bình đẳng giới, là một ví dụ về nỗ lực nâng cao chất lượng nghề chăm sóc tại Việt Nam. Dự án do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh khu vực thành phố Hồ Chí Minh (VCCI-HCM) phối hợp triển khai cùng Trường Melbourne Polytechnic (Australia), sáng kiến Investing in Women của Chính phủ Australia và các đối tác liên quan. Các khóa đào tạo hướng tới chuẩn hóa năng lực của nhân lực chăm sóc người cao tuổi phi y tế.

Bà Cathy McWilliam, Bí thư thứ nhất, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, chia sẻ với Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội rằng, chăm sóc người cao tuổi cần được nhìn nhận là một nghề đòi hỏi kỹ năng, được tôn trọng và có điều kiện phát triển. Việc xây dựng chương trình đào tạo và chuẩn hóa năng lực là bước cần thiết để người lao động có thể hành nghề chuyên nghiệp, còn các gia đình có thêm cơ sở lựa chọn dịch vụ phù hợp.
Bên cạnh đào tạo và cải thiện điều kiện làm việc, việc hoạch định chính sách cũng cần dựa trên dữ liệu đầy đủ. Bà Feroza Sanjana lưu ý cần theo dõi thời gian dành cho công việc chăm sóc không được trả công, khả năng tham gia thị trường lao động, thu nhập và điều kiện làm việc của người lao động. Những thông tin này giúp xác định nơi còn thiếu dịch vụ, nhóm cần hỗ trợ và hiệu quả thực tế của các khoản đầu tư.

Vì thế, phát triển kinh tế chăm sóc cần gắn kết hai mục tiêu: Giúp các gia đình tiếp cận dịch vụ phù hợp và bảo đảm người làm nghề có việc làm ổn định, thu nhập tương xứng cùng quyền lợi đầy đủ. “Khi công việc chăm sóc được tổ chức tốt hơn và được ghi nhận đúng mức, phụ nữ có thêm điều kiện tham gia các hoạt động kinh tế, còn ngành chăm sóc có nền tảng để phát triển bền vững”, TS Feroza nêu rõ.
Kiều Thoan Thu