hanoimoi.vn

Nông nghiệp - Nông thôn

Nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm sinh kế người chăn nuôi

Phương Nga

Dịch bệnh, biến đổi khí hậu, áp lực giảm phát thải và cạnh tranh thị trường đang đặt ngành chăn nuôi trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ. Đẩy nhanh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới mô hình sản xuất và tăng cường liên kết là hướng đi cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm sinh kế người chăn nuôi.

Ngày 28-10, tại Hà Nội, Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á – Úc lần thứ 21 (AAAP 2026) khai mạc với chủ đề “Chăn nuôi bền vững”. Hội nghị do Hội Chăn nuôi Việt Nam chủ trì, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp đến từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, nhằm trao đổi tri thức, đề xuất giải pháp khoa học, công nghệ và chính sách cho ngành chăn nuôi trong bối cảnh mới.

d641efbf-a3b6-4675-823f-b3d5e2052dfe.jpg
Quang cảnh lễ khai mạc AAAP 2026. Ảnh: BTC

Từ áp lực dịch bệnh đến yêu cầu đổi mới mô hình sản xuất

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, chăn nuôi hiện đóng góp khoảng 27% GDP ngành nông nghiệp; Việt Nam có quy mô đàn lợn đứng thứ sáu và đàn thủy cầm đứng thứ hai thế giới. Đáng chú ý, hơn 90% vốn đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh chăn nuôi đến từ khu vực kinh tế tư nhân. Đây là cơ sở quan trọng để huy động nguồn lực xã hội cho đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và phát triển chuỗi giá trị.

dsc00567.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: BTC

Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng bộc lộ những điểm nghẽn ngày càng rõ. Dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, gây rủi ro lớn cho hoạt động sản xuất; biến đổi khí hậu và yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính đòi hỏi các cơ sở chăn nuôi phải thay đổi phương thức quản lý. Trong khi đó, yêu cầu bảo đảm an toàn thực phẩm, nâng cao phúc lợi vật nuôi và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường ngày càng cao tạo thêm áp lực về chi phí đầu tư.

Một vấn đề đáng lưu ý là sự chênh lệch về năng lực cạnh tranh giữa các tập đoàn chăn nuôi quy mô lớn với hộ chăn nuôi và doanh nghiệp vừa, nhỏ. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho biết, trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, tỷ trọng của khu vực chăn nuôi nông hộ đã giảm từ khoảng 70% năm 2020 xuống dưới 30% tổng đàn vào năm 2025.

Sự thay đổi này cho thấy xu hướng chuyển dịch sang sản xuất quy mô lớn, chuyên nghiệp hơn, nhưng đồng thời đặt ra bài toán duy trì sinh kế cho người chăn nuôi nhỏ lẻ, bảo đảm cơ hội tham gia thị trường và hạn chế nguy cơ đứt gãy liên kết trong chuỗi cung ứng. Nếu không có giải pháp phù hợp về tổ chức sản xuất, tiếp cận công nghệ và thị trường, nhóm hộ chăn nuôi nhỏ sẽ khó nâng cao sức chống chịu trước biến động giá cả và dịch bệnh.

TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, Chủ tịch AAAP 2026 phát biểu khai mạc hội nghị. Ảnh: BTC
TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, Chủ tịch AAAP 2026 phát biểu khai mạc hội nghị. Ảnh: BTC

TS Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, Chủ tịch AAAP 2026 nhận định, so với thời điểm Việt Nam đăng cai Hội nghị AAAP lần thứ 13 năm 2008, ngành chăn nuôi hiện phải đối mặt với những thách thức phức tạp hơn. Bên cạnh dịch bệnh và biến đổi khí hậu, sự phát triển của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi phương thức quản trị sản xuất cũng như xu hướng tiêu dùng thực phẩm.

Theo ông Nguyễn Xuân Dương, việc lựa chọn chủ đề “Chăn nuôi bền vững” xuất phát từ yêu cầu tìm kiếm mô hình phát triển phù hợp với bối cảnh mới, đồng thời tạo sự đồng thuận giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và người chăn nuôi. Mục tiêu không chỉ là nâng cao năng suất mà còn phải sử dụng hiệu quả tài nguyên, kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ môi trường và bảo đảm hiệu quả kinh tế lâu dài.

Đưa khoa học, công nghệ vào thực tiễn sản xuất

Để giải quyết đồng thời những thách thức trên, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi ngành chăn nuôi. Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh, phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào quyết tâm của từng đơn vị mà cần hệ thống chính sách đồng bộ, giải pháp thực tiễn và sự hợp tác giữa các quốc gia, tổ chức nghiên cứu, doanh nghiệp và người sản xuất.

Theo đó, cần tăng cường nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong chọn tạo giống, dinh dưỡng vật nuôi, phòng chống dịch bệnh, xử lý chất thải và quản lý môi trường. Việc phát triển các mô hình chăn nuôi tuần hoàn, tận dụng phụ phẩm, tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải cũng góp phần hạ chi phí đầu vào, hạn chế tác động môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Đối với các cơ sở chăn nuôi, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu mở ra cơ hội kiểm soát tốt hơn quá trình sản xuất, theo dõi sức khỏe đàn vật nuôi, quản lý thức ăn và phát hiện sớm nguy cơ dịch bệnh. Tuy nhiên, để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả, cần tính đến khả năng tiếp cận của các cơ sở quy mô nhỏ, đồng thời tăng cường hoạt động chuyển giao kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực.
Các đại biểu tham quan các gian trưng bày sản phẩm trong khuôn khổ sự kiện. Ảnh: BTC

Đây cũng là một trong những trọng tâm của AAAP 2026. Hội nghị diễn ra từ ngày 28 đến 31-10 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với 14 nhóm chuyên đề, bao quát các lĩnh vực từ di truyền, giống vật nuôi, dinh dưỡng, sức khỏe vật nuôi đến môi trường, quản trị số, chăn nuôi thông minh, chăn nuôi nông hộ và phúc lợi động vật.

Một nội dung được kỳ vọng tại hội nghị là xây dựng “Thông điệp Hà Nội” về chăn nuôi bền vững, hướng tới hài hòa ba mục tiêu: Bảo đảm an ninh lương thực, cải thiện sinh kế và phúc lợi xã hội; bảo vệ sức khỏe, phúc lợi vật nuôi; bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Các định hướng được đặt ra gồm phát triển nguồn gen, bảo đảm dinh dưỡng bền vững, thúc đẩy cách tiếp cận Một sức khỏe, phát triển chăn nuôi tuần hoàn, tăng cường đổi mới sáng tạo và xây dựng chuỗi giá trị có trách nhiệm.

Từ thực tiễn ngành chăn nuôi Việt Nam, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô hay tăng sản lượng, mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố khả năng chống chịu trước dịch bệnh và biến động thị trường. Muốn vậy, cần gắn nghiên cứu với nhu cầu sản xuất, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và người chăn nuôi, đồng thời bảo đảm các mô hình công nghệ và chính sách hỗ trợ có thể tiếp cận được với nhiều nhóm sản xuất. Đây là nền tảng để ngành chăn nuôi nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển có trách nhiệm và bền vững trong dài hạn.

Phương Nga