Công nghệ số mở lối tiêu thụ sản phẩm làng nghề
Khi công nghệ số mở ra khả năng lắng nghe phản hồi, nhận diện nhu cầu và kết nối trực tiếp với người tiêu dùng, làng nghề truyền thống Hà Nội có thể phát triển sản phẩm dựa trên những gì thị trường cần thay vì sản xuất những gì mình có.
Kể chuyện nghề trên không gian số
Ở làng rèn Đa Sỹ, phường Kiến Hưng, Hà Nội, tiếng búa tiếng đe là âm thanh quen thuộc tạo nên sức sống của xưởng nghề. Sản phẩm dao, kéo Đa Sỹ mang theo kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ, giờ có thêm cách thức mới để đến tay người tiêu dùng.

Điện thoại thông minh và các nền tảng mạng xã hội giúp sản phẩm Đa Sỹ xuất hiện trước những khách hàng chưa từng đặt chân đến làng nghề. Trong năm 2026, Đoàn Thanh niên phường Kiến Hưng đã phối hợp triển khai hoạt động truyền thông số cho làng rèn Đa Sỹ, với sự tham gia của 22 đoàn viên trong tổ truyền thông số. Những video giới thiệu nghề, hình ảnh nghệ nhân và các phiên livestream giúp sản phẩm tiếp cận cộng đồng bằng phương thức gần gũi hơn.
Từng trực tiếp tham gia nhiều phiên livestream giới thiệu sản phẩm làng rèn Đa Sỹ, chị Lê Thị Hà Anh, Tổ trưởng Tổ dân phố Hưng Thịnh 4, cho biết, livestream giúp người làm nghề giới thiệu trực quan kiểu dáng, công dụng sản phẩm và quy trình chế tạo, đồng thời tương tác, giải đáp thắc mắc của khách hàng ngay trong phiên phát sóng. Nhờ đó, sản phẩm làng nghề có cơ hội tiếp cận nhiều người mua hơn, mở rộng kênh quảng bá và kết nối với thị trường.
Không chỉ hỗ trợ quảng bá, môi trường số còn mở ra cơ hội để người làm nghề nắm bắt nhu cầu khách hàng. Anh Lê Anh Đức, thợ rèn làng Đa Sỹ chia sẻ: “Trước đây, các hộ sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, đơn hàng quen thuộc và phản hồi trực tiếp để điều chỉnh sản phẩm. Nay, thông qua bình luận, câu hỏi, yêu cầu đặt hàng và phản hồi sau mua trên các nền tảng số, người sản xuất có thêm cơ sở nhận diện sản phẩm được quan tâm, thị hiếu của khách hàng và những điểm cần cải thiện. Từ những thông tin này, các cơ sở có thể điều chỉnh mẫu mã, nâng cao chất lượng và đáp ứng thị trường tốt hơn”.
Để công nghệ trở thành năng lực lâu dài của làng nghề
Theo ông Hoàng Quốc Chính, Chủ tịch Hội làng nghề Đa Sỹ, hiện làng có hơn 800 hộ trực tiếp sản xuất nghề rèn và khoảng 100 hộ kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, bên cạnh các hộ cung cấp sắt, thép và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Cùng với những hạn chế về không gian sản xuất, việc tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ cũng là bài toán đặt ra đối với làng nghề, đòi hỏi sự hỗ trợ đồng bộ từ chính quyền địa phương.
Trong bối cảnh đó, ứng dụng công nghệ số, đặc biệt là livestream bán hàng, được xem là một hướng đi giúp làng rèn Đa Sỹ mở rộng khả năng tiếp cận thị trường. Phó Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Đinh Công Đoán đánh giá, các phiên livestream không chỉ giúp sản phẩm được nhiều người biết đến mà còn cung cấp thông tin về địa chỉ mua hàng, tạo thêm cơ hội kết nối trực tiếp với khách hàng. Đây là cách làm thiết thực để làng nghề từng bước thích ứng với xu hướng tiêu dùng mới và đa dạng hóa kênh tiêu thụ.

Phó Chủ tịch UBND phường Kiến Hưng Phan Cao Đăng cho biết, phường khuyến khích các hộ sản xuất tiếp cận những hình thức bán hàng hiện đại. Các phiên livestream được tổ chức với kịch bản cụ thể, hướng dẫn cách giới thiệu sản phẩm và tương tác với người xem, giúp các cơ sở từng bước tích lũy kinh nghiệm, tiến tới chủ động tổ chức bán hàng trực tuyến.
Bên cạnh đó, phường đề xuất thành phố đẩy nhanh tiến độ dự án cụm công nghiệp làng nghề, góp phần giải quyết khó khăn về mặt bằng sản xuất, cải thiện điều kiện môi trường và tạo dư địa phát triển cho làng nghề.
Thực tế tại Đa Sỹ cho thấy, đưa sản phẩm lên môi trường số là bước khởi đầu; để công nghệ thực sự trở thành năng lực kinh doanh thường xuyên, các cơ sở còn cần được hỗ trợ về kỹ năng, hạ tầng và tổ chức thị trường.
Trong đợt cao điểm 100 ngày thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số, Hà Nội đặt mục tiêu đưa tối thiểu 2.000 sản phẩm, dịch vụ lên môi trường số. Mục tiêu này đặt ra yêu cầu chuyển đổi số phải đi sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh tại cơ sở, trong đó có các làng nghề truyền thống.
Như vậy, bên cạnh đào tạo kỹ năng số, các địa phương cần quan tâm phát triển hạ tầng, bố trí đầu mối hỗ trợ thương mại điện tử và tăng cường phối hợp giữa chính quyền, đoàn thể, hợp tác xã, doanh nghiệp vận chuyển với các hộ sản xuất.
Hoạt động hỗ trợ cũng cần gắn với những kết quả có thể đánh giá, như số khách hàng mới, lượng đơn hàng, khả năng duy trì kênh bán hàng và hiệu quả tiêu thụ sau các chiến dịch quảng bá. Qua đó, người dân không chỉ biết sử dụng công nghệ mà còn có thể vận dụng công nghệ để nắm bắt nhu cầu thị trường, điều chỉnh sản phẩm và xây dựng tệp khách hàng ổn định.
Công nghệ số chỉ thực sự mở ra hướng phát triển mới khi người sản xuất từng bước giảm sự phụ thuộc vào các kênh tiêu thụ truyền thống, chủ động tìm kiếm khách hàng và tổ chức đầu ra cho sản phẩm. Đây cũng là cơ sở để các làng nghề Hà Nội vừa gìn giữ bản sắc, giá trị thủ công truyền thống, vừa nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững trong nền kinh tế số.
Ngọc Minh