Dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử: Hoàn thiện hành lang pháp lý cho danh tính số
Sáng 26-10, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an trình bày tờ trình về dự án Luật Định danh và xác thực điện tử.
Mở rộng đối tượng định danh điện tử

Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, dự thảo Luật Định danh và xác thực điện tử gồm 8 chương, 46 điều, quy định về hoạt động định danh, xác thực điện tử; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất 5 nhóm đối tượng định danh điện tử, thiết lập 3 mô hình xác thực và quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực này.
Về phạm vi điều chỉnh, dự thảo Luật quy định hoạt động định danh và xác thực điện tử, cùng quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Đối tượng áp dụng gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam; người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và các chủ thể nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động định danh, xác thực điện tử của Việt Nam.
Dự thảo xác định 5 nhóm đối tượng định danh điện tử, gồm: cơ quan, tổ chức, cá nhân; sản phẩm, hàng hóa, tài sản vật chất và các đối tượng vật chất khác; cơ sở dữ liệu, tệp dữ liệu, hình ảnh, âm thanh, video, ứng dụng, phần mềm và dịch vụ số; sự kiện, giao dịch, hành vi; địa điểm và không gian. Chính phủ được giao quy định việc định danh, xác thực điện tử đối với các đối tượng thuộc lĩnh vực quân sự, quốc phòng, cơ yếu.
Dự thảo đồng thời đặt ra nguyên tắc thu thập dữ liệu tối thiểu, không thu thập lại dữ liệu đã có; nghiêm cấm sử dụng sinh trắc giả, hình ảnh giả tạo bằng công nghệ hoặc các hình thức gian lận công nghệ khác để tạo lập, giả mạo danh tính điện tử. Quá trình định danh, xác thực điện tử phải bảo đảm ghi nhận, lưu vết, truy vết và trách nhiệm giải trình.

Về mô hình định danh điện tử, dự thảo quy định hai phương thức thực hiện. Theo đó, Nhà nước đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng để trực tiếp định danh điện tử đối với địa điểm, không gian; đối tượng thuộc dữ liệu cốt lõi, dữ liệu quan trọng; đối tượng đã được chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng; sản phẩm, hàng hóa có rủi ro cao và đối tượng bí mật nhà nước.
Đối với các đối tượng còn lại, tổ chức đủ điều kiện có thể tự đầu tư, thiết lập hệ thống, nền tảng và cơ sở hạ tầng để thực hiện hoạt động định danh điện tử, qua đó đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ định danh thương mại.
Hệ thống định danh và xác thực điện tử gồm: Cơ sở dữ liệu quốc gia về định danh và xác thực điện tử; Nền tảng định danh và xác thực điện tử; ứng dụng định danh quốc gia VNeID; hệ thống quản lý hiệu lực của danh tính điện tử và chứng thư điện tử xác nhận thông tin; Cổng định danh và xác thực điện tử quốc gia cùng các phần mềm, ứng dụng, hệ thống thông tin khác. Các hệ thống thông tin liên quan được kết nối để phục vụ quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và phát triển kinh tế - xã hội.
Về xác thực điện tử, dự thảo quy định các đối tượng đã được tạo lập danh tính điện tử và cấp mã định danh theo Luật đều thuộc diện có thể được xác thực điện tử. Ba mô hình xác thực được thiết lập gồm xác thực tập trung, xác thực trung gian và xác thực độc lập. Dự thảo cũng quy định việc liên kết, xác thực danh tính điện tử là bắt buộc đối với giao dịch trên nền tảng số thuộc một số lĩnh vực.
Dự thảo Luật quy định điều kiện đối với tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử, bao gồm tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, hệ thống kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin, nhân sự chuyên trách, quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu người dùng, an ninh mạng, khả năng kết nối kỹ thuật với Hệ thống và bảo hiểm trách nhiệm. Ngoài ra, dự thảo đề xuất nguyên tắc công nhận lẫn nhau đối với danh tính điện tử và kết quả xác thực của nước ngoài để sử dụng trong các giao dịch xuyên biên giới.
Bảo đảm an toàn dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư

Trình bày báo cáo thẩm tra, Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Định danh và xác thực điện tử, đồng thời đề nghị tiếp tục hoàn thiện các quy định về thu thập, lưu trữ dữ liệu, liên kết danh tính điện tử và trách nhiệm của tổ chức cung cấp dịch vụ nhằm bảo đảm tính khả thi, an toàn và thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Ủy ban cũng đề nghị tiếp tục rà soát quy định về thu thập, lưu trữ, xác thực dữ liệu sinh trắc học để bảo vệ quyền riêng tư; đánh giá tính khả thi về hạ tầng công nghệ, tài chính và nhân lực khi mở rộng định danh sang các thực thể vật chất, đối tượng phi vật chất.
Đối với đối tượng định danh điện tử, Ủy ban cơ bản nhất trí với quy định tại Điều 7, song có ý kiến đề nghị phân định rõ nhóm đối tượng bắt buộc và nhóm khuyến khích định danh; đánh giá kỹ tính khả thi và nguy cơ lộ lọt thông tin đối với các đối tượng chứa bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh.
Về danh tính điện tử và mã định danh, có ý kiến đề nghị bổ sung khung quy định về các trường thông tin được phép thu thập, giao Chính phủ quy định giới hạn thông tin và tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm nguyên tắc thu thập tối thiểu, tránh lạm dụng và xâm phạm quyền riêng tư.

Đối với việc liên kết danh tính điện tử, Ủy ban đề nghị nghiên cứu quy định theo hướng bảo đảm tính cần thiết, tương xứng với mục đích quản lý và mức độ rủi ro của giao dịch; chỉ bắt buộc liên kết trong các trường hợp pháp luật chuyên ngành quy định. Đồng thời, cần làm rõ phạm vi, điều kiện và mức độ liên kết danh tính.
Về tổ chức cung cấp dịch vụ định danh và xác thực điện tử, Ủy ban nhất trí với chính sách xã hội hóa, cho phép tổ chức đủ điều kiện tham gia cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị ban hành khung tiêu chuẩn kỹ thuật tối thiểu, chuẩn dữ liệu dùng chung; quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý và cơ chế bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự cố lộ lọt dữ liệu hoặc định danh, xác thực sai lệch.
Đối với việc tạm dừng, hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực danh tính điện tử và lưu trữ dữ liệu, có ý kiến đề nghị quy định rõ thẩm quyền, căn cứ và thời hạn tạm dừng; bổ sung cơ chế xử lý khẩn cấp khi có nguy cơ mất an ninh, an toàn, cũng như trách nhiệm bồi thường nếu xử lý sai. Đồng thời, cần xem xét quyền yêu cầu xóa, hủy dữ liệu danh tính tự chủ khi không còn nhu cầu và rà soát thời hạn lưu trữ để bảo đảm phù hợp với pháp luật liên quan.
Ủy ban cũng đề nghị rà soát quy định về công nhận danh tính, chữ ký số và kết quả xác thực điện tử nước ngoài, bảo đảm tương thích với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; làm rõ cơ chế phối hợp, yêu cầu đối với nền tảng số xuyên biên giới cung cấp dịch vụ tại Việt Nam.
Về phí khai thác, sử dụng dữ liệu, cần bảo đảm thống nhất với Luật Dữ liệu, Luật Phí và lệ phí, đồng thời tính toán mức phí hợp lý cho người dân, doanh nghiệp. Có ý kiến đề nghị cho phép giải quyết thủ tục bằng giấy tờ truyền thống khi xảy ra sự cố kỹ thuật hoặc tại địa bàn chưa bảo đảm hạ tầng số.
Đối với điều khoản chuyển tiếp, có ý kiến đề nghị làm rõ giá trị pháp lý của tài khoản VNeID, mã định danh, danh tính điện tử và chữ ký số đã cấp; xác định lộ trình chuẩn hóa hạ tầng để không làm gián đoạn giao dịch, đồng thời bảo đảm đủ thời gian cho các chủ thể chuẩn bị hạ tầng và nhân lực khi Luật có hiệu lực.
Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia
Tại phiên họp, Bộ trưởng Lương Tam Quang trình bày dự thảo dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Dự thảo gồm 7 chương, 41 điều, quy định về nguyên tắc, tiêu chí, thẩm quyền xác định, biện pháp và lực lượng bảo vệ; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân; quản lý công trình an ninh, khu an ninh và các chính sách liên quan. Việc bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Dự thảo phân công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia thành 3 nhóm: công trình trọng điểm về an ninh quốc gia; công trình an ninh, khu an ninh do lực lượng Công an nhân dân quản lý, sử dụng và các công trình quan trọng khác thuộc chức năng quản lý nhà nước của cơ quan, tổ chức, địa phương, trừ công trình do Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quản lý.
Đình Hiệp