hanoimoi.vn

Giáo dục

Lối về khoa văn trong tiềm thức của một người thầy

Phan Anh

Tôi đến với thầy Lê Trường Phát là một cơ duyên. Hồi đó, tôi thỉnh thoảng sang lớp thầy dạy để “học ké”. Nhưng giảng đường “học ké” chưa phải là nơi gắn kết của hai thầy trò.

van-2.jpg
Thầy giáo Lê Trường Phát cùng học trò.

Thầy và tôi biết nhau là ở nhà A7 - ký túc xá. Ngày ấy, buổi tối thầy thường đến với sinh viên. Tôi nhớ, thầy đi chiếc xe Jawa, đầu hay đội mũ beret. Mỗi lần thầy đến, ngoài trao đổi công việc học tập, thầy còn hỏi thăm các sinh viên xa nhà. Thầy nói chuyện rất duyên, dí dỏm, thỉnh thoảng còn hài hước. Nhưng “duyên trời” giữa tôi với thầy bắt đầu từ đầu năm học thứ tư.

Đó là khi Khoa phân công viết luận văn tốt nghiệp. Tôi được phân công làm luận văn tốt nghiệp về phương pháp dạy tiếng Việt. Thú thực, tôi không thích làm về phương pháp nên tìm cách “tháo chạy”. Tôi đánh liều gặp thầy Trần Đăng Suyền, Phó Trưởng khoa, để xin chuyển đổi. Tôi xin mãi nên thầy đồng ý với điều kiện tự tìm người hướng dẫn. Trong khoảnh khắc ấy, thầy Lê Trường Phát đã hiện lên trong tôi. Ngay lập tức, tôi tìm đến thầy và kể lại sự tình. Nghe xong, thầy cười rất hiền và đồng ý. Thế rồi từ đây, mối quan hệ thầy trò của tôi thân thiết cho đến tận bây giờ.

So với các bậc sư biểu khác, thầy Phát có hoàn cảnh rất riêng. Thầy ở vậy phụng dưỡng mẹ già, không lập gia đình. Tôi biết ngày ấy cũng có người đem lòng thương thầy, nhưng có lẽ do duyên phận chưa tròn nên cuối cùng thầy vẫn sống đơn chiếc. Có lẽ, trong hoàn cảnh ấy, ở thầy lại toát lên những nét khéo léo hiếm thấy của một người đàn ông.

Thầy nấu ăn rất ngon và chăm sóc cụ Vân - mẹ thầy - vô cùng chu đáo. Tôi vẫn không thể nào quên được hương vị đặc trưng của các món nước chấm do chính tay thầy pha chế. Thầy kể với tôi, mẹ thầy là người Huế nên nấu ăn rất giỏi và thầy được thừa hưởng nét tinh tế ấy từ bà. Hình như, sống trong hoàn cảnh như vậy nên thầy dồn hết tình cảm cho mọi người xung quanh, nhất là học trò. Thầy là một trong những người hay cưu mang sinh viên nhất ở khoa ngữ văn. Khóa nào cũng có người được thầy giúp đỡ.

Đến giờ, tôi chắc rằng, trong ký ức của nhiều người, hình ảnh thầy và căn phòng rộng 16 mét vuông ở 61B, phố Hàng Bồ sẽ không bao giờ phai mờ. Nơi ấy không đơn thuần là chốn nương thân của thầy, mà thiêng liêng hơn, đó là tổ ấm của nhiều sinh viên được thầy cưu mang. Căn phòng chẳng có tài sản gì đáng giá ngoài những kệ sách cao sát trần nhà, quanh bốn bức tường, nhưng từ chốn này có biết bao người đã trưởng thành, trong đó không ít người trở thành giáo sư, tiến sĩ, lãnh đạo trong và ngoài ngành giáo dục.

Thầy Phát giảng dạy và nghiên cứu văn học dân gian nên rất hay đi điền dã. Cuộc đời thầy gắn liền với nhiều chuyến đi trên khắp mọi miền, đặc biệt là vùng Tây Bắc. Có lẽ vì thế mà phổ tri thức của thầy rất rộng. Những ai làm việc với thầy sẽ thấy kiến văn của thầy rất sâu sắc, đặc biệt là tri thức liên ngành.

Tôi thỉnh thoảng được theo thầy. Mỗi lần đi như thế, tôi thấy thầy nhìn đâu cũng ra những biểu tượng - mật mã văn hóa. Khi thì chân cột nhà sàn, lúc là hình hoa văn trên tấm thổ cẩm. Đi với thầy, tôi hiểu tại sao trên bục giảng thầy thăng hoa như “lên đồng” mà người nghe không thấy chán. Ngoài ra, thầy rất mê sách, về hưu rồi vẫn hay mua. Với thầy, đọc sách đúng là học tập suốt đời. Có lúc gặp sách hay, thầy không chỉ mua cho riêng mình mà cho cả tôi. Tôi biết không phải mình tôi được hưởng đặc ân này.

Thầy Phát sống hòa nhã với mọi người, yêu thương học trò. Tôi chưa thấy thầy tranh đấu, giành giật với ai bao giờ. Thầy uyên thâm nhưng không màng công danh hay học hàm, học vị. Mãi đến năm 1997, thầy mới bảo vệ tiến sĩ. Thầy làm tiến sĩ hồi đó là do quy chế đào tạo sau đại học có thay đổi. Bộ môn nào muốn đào tạo sau đại học phải có đủ tiến sĩ, giảng viên dạy cao học trở lên phải là tiến sĩ. Tôi thấy nhiều người giục thầy viết sách.

Thầy nghe rồi lại để đấy, nên cuối cùng dù biết rất nhiều nhưng viết ra lại chẳng đáng là bao. Rốt cuộc, đến nay, ngoài luận án tiến sĩ “Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số”, thầy chỉ viết riêng một cuốn “Thi pháp văn học dân gian”, viết chung một cuốn giáo trình “Văn học dân gian” và một vài cuốn sách giáo khoa, sách tham khảo cho học sinh phổ thông.

van-1.jpg
Thầy giáo Lê Trường Phát.

Tuy nhiên, dù viết ít nhưng những công trình của thầy để lại rất có ý nghĩa, đặc biệt là luận án tiến sĩ. Công trình này có thể xem là một tài liệu tham khảo không thể thiếu được cho bất kỳ ai muốn nghiên cứu về truyện thơ dân gian. Có lần tôi khuyên thầy đem in sách, thầy ậm ừ nhưng rồi đâu lại vào đấy. Hình như thầy không muốn làm, có lần thầy nói: viết sách nên “quý hồ tinh bất quý hồ đa”.

Với thầy Phát, tôi không thể không kể đến những kỷ niệm vợ chồng tôi cùng thầy và cô Bích Hà (cùng một số cộng sự khác) tham gia làm hai cuốn sách: “Hoài Đức một vùng văn hóa dân gian” và “Đọc hiểu tác phẩm văn học dân gian trong trường phổ thông”. Khi làm cuốn “Hoài Đức một vùng văn hóa dân gian”, thầy trò chúng tôi đi điền dã khắp huyện Hoài Đức. Phải nói rằng, càng đi tôi càng thấy con “mắt xanh” của thầy cực kỳ “sắc sảo”. Thầy chỉ cho tôi thấy vai trò của vùng đất này trong quá trình hình thành nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng cũng như mối quan hệ hai chiều, trên các phương diện địa lý và lịch sử xã hội, với Thăng Long - Hà Nội.

Còn khi làm cuốn sách “Đọc hiểu tác phẩm văn học dân gian trong trường phổ thông”, tôi lại học được thầy tính cẩn thận khi làm tư liệu, cách trau chuốt câu chữ sao cho vang nhạc - sáng hình trong những lời bình, chỉn chu trong từng dấu chấm, dấu phẩy sao cho câu văn mạch lạc, cách vận dụng tri thức liên ngành để phân tích văn học dân gian. Có thể nói, ở bên thầy, tôi cảm thấy mình như đang được lớn lên và trưởng thành rất nhiều.

Những năm gần đây, vào độ tuổi bát tuần, trí nhớ của thầy kém dần rồi bị lẫn. Tuy thầy bị lẫn nhưng có một nơi thầy không bao giờ quên. Đó là khoa ngữ văn của thầy. Nhiều lần đi lạc, phải hỏi thăm đường nhưng thầy không hỏi về nhà mà hỏi về khoa ngữ văn. Cách đây vài ba năm, cháu gái thầy đưa thầy vào Viện dưỡng lão. Kể từ đây, căn phòng trên phố cổ Hàng Bồ và chung cư A6 Mỹ Đình mãi mãi là miền hoài niệm trong ký ức của thầy.

Gần hai năm nay, thầy không còn nhận ra ai, ăn bằng đường truyền. Thầy nằm co quắp trong nhà dưỡng lão nhưng các thế hệ học trò của thầy vẫn thường xuyên qua lại. Dù biết vào đấy không nói gì được với thầy và cũng không nghe được thầy nói câu nào nhưng mọi người vẫn đến để thầy đỡ tủi thân. Nhiều hôm, tôi ngồi bên thầy cả giờ, xoa bóp cho thầy mà nước mắt không ít lần trào ra vì thương thầy. Nhưng rồi lại nghĩ, thầy chẳng biết gì có khi là may mắn. Bởi chỉ có thế, thầy mới chẳng phải bận lòng về việc đời nữa và những kỷ niệm lưu lại trong thầy sẽ không có sự khổ đau hay bon chen, đố kỵ.

Trong thế giới ký ức tĩnh lặng của thầy lúc nào cũng phới phới “tuổi hai mươi”. Gần đến ngày kỷ niệm 75 năm thành lập khoa ngữ văn, tôi vào thăm thầy. Nhìn thầy an nhiên trên giường với cặp mắt tinh anh mà lòng không khỏi nhói lên đau xót, thương cảm.

Vẫn biết, con người sinh ra mỗi người một số nhưng sao thầy lại truân chuyên đến thế! Thương thầy!

Phan Anh