hanoimoi.vn

Kinh tế

Gỡ điểm nghẽn để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững

Vân Nga

Dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) đang được Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2, với kỳ vọng hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân. Phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh Truyền hình Hà Nội có cuộc trao đổi với ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HANOISME) xung quanh dự án Luật này.

Ổn định tiêu chí, không làm đứt đoạn hỗ trợ

- Thưa ông, dự án Luật lần này đề xuất nới rộng các tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (doanh thu đến 400 tỷ đồng, vốn 150 tỷ đồng, lao động tối đa 300 người) và tính lao động bình quân năm. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra của Quốc hội lo ngại việc dùng các tiêu chí biến động theo báo cáo tài chính hằng năm sẽ khiến doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng “năm được hỗ trợ, năm bị loại”, gây khó khăn cho việc thụ hưởng các chính sách trung và dài hạn.

Ông nhìn nhận thế nào về khoảng cách này và doanh nghiệp Hà Nội kỳ vọng tiêu chí nào sẽ ổn định, thực chất nhất?

tien-si-mac-quoc-anh.jpg
Ông Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội (HANOISME)

- Tôi ủng hộ mở rộng tiêu chí, nhưng mở rộng đối tượng phải đi cùng ổn định chính sách. Theo Dự thảo, doanh nghiệp có lao động bình quân không quá 300 người, đồng thời đáp ứng điều kiện về doanh thu tối đa 400 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn tối đa 150 tỷ đồng. Không nên hiểu là phải đồng thời đạt cả ba tiêu chí.

Quy mô doanh nghiệp và nhu cầu hỗ trợ không biến động cùng nhịp. Chẳng hạn, doanh thu tăng vì một hợp đồng lớn chưa đồng nghĩa doanh nghiệp đã đủ năng lực tự đầu tư công nghệ. Nếu hỗ trợ đang triển khai bị dừng ngay, doanh nghiệp sẽ khó lập kế hoạch dài hạn.

Tôi đề xuất sử dụng số liệu bình quân trong hai đến ba năm, phân theo ngành nghề; doanh nghiệp mới thành lập được đánh giá theo thời gian hoạt động thực tế. Cách tiếp cận nhiều năm cũng đã được cơ quan thẩm tra đề nghị nghiên cứu.

Quan trọng hơn, cần tách tiêu chí xác định quy mô khỏi thời hạn thực hiện chương trình. Khoản hỗ trợ được phê duyệt hợp lệ nên được tiếp tục theo cam kết khi doanh nghiệp tăng trưởng vượt ngưỡng, trừ trường hợp gian lận hoặc vi phạm.

Với hỗ trợ mới, có thể nghiên cứu giai đoạn chuyển tiếp giảm dần từ 12 đến 24 tháng, thay vì cắt đột ngột. Đồng thời, phải dành nguồn lực phù hợp cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, tránh để nhóm sát trần quy mô hấp thụ phần lớn ngân sách. Dữ liệu thuế, lao động cần được đối chiếu để hạn chế chia tách doanh nghiệp nhằm hưởng lợi.

Thông điệp là: Chính sách phải khuyến khích doanh nghiệp lớn lên, không khiến họ ngại lớn vì sợ mất hỗ trợ.

Mặt bằng phải có thật, nguồn lực phải rõ

- Một trong những “cơn đau đầu” kinh niên của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hà Nội chính là mặt bằng sản xuất. Dự thảo Luật mở cơ chế cho phép địa phương dùng ngân sách đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp cho thuê hoặc cấp voucher hỗ trợ chi phí thuê mặt bằng, nhưng cơ quan thẩm tra cũng băn khoăn về tính khả thi tại những địa phương có nguồn thu hạn chế và quỹ đất eo hẹp.

Theo ông, các chính sách này cần được thiết kế đường đi ra sao đối với doanh nghiệp Thủ đô?

- Đối với mặt bằng, tôi cho rằng phải đồng thời giải quyết ba việc: Có địa điểm phù hợp, có hạ tầng sử dụng được và có chi phí thuê chấp nhận được. Dự thảo mở thêm công cụ hỗ trợ, nhưng hiệu quả phụ thuộc cách bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện.

Hà Nội cần công khai danh mục mặt bằng đủ điều kiện khai thác, giá thuê, tiến độ hoàn thiện hạ tầng và tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp. Nên ưu tiên nhu cầu sản xuất thực, đổi mới công nghệ, di dời cơ sở không còn phù hợp; không phân bổ theo quan hệ hoặc khả năng xin hỗ trợ.

Về đầu tư, cần gắn từng dự án với kế hoạch vốn, thời hạn bàn giao và đầu mối chịu trách nhiệm. Ngân sách nên tập trung vào hạ tầng thiết yếu, xử lý môi trường và kết nối giao thông; huy động doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng phù hợp. Có thể nghiên cứu nhà xưởng dùng chung, nhà xưởng nhiều tầng cho ngành phù hợp, bảo đảm an toàn và môi trường. Với phiếu hỗ trợ, phải xác định rõ hỗ trợ tiền thuê đất, thuê lại đất hay thuê nhà xưởng; không gộp những khoản có bản chất khác nhau.

Tôi đề xuất thanh toán theo hợp đồng, hóa đơn và mức trần công khai, kiểm tra doanh nghiệp thực sự sử dụng mặt bằng. Cần chống nâng giá thuê để hấp thụ ưu đãi và chống nhận hỗ trợ trùng lặp. Những địa phương khó cân đối ngân sách cần cơ chế hỗ trợ có mục tiêu từ Trung ương theo tiêu chí rõ ràng.

Riêng Hà Nội nên tăng liên kết vùng, nhưng phải tính cả chi phí vận chuyển và đi lại của lao động. Có voucher mà không có mặt bằng phù hợp thì vẫn chưa giải quyết được vấn đề.

Đổi cách đánh giá tín dụng, bảo đảm hỗ trợ liên tục

- Về bài toán tiếp cận nguồn vốn, dự thảo định hướng đa dạng hóa nguồn vốn, khuyến khích đánh giá khả năng trả nợ dựa trên dòng tiền và dữ liệu thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào tài sản bảo đảm. Song song đó, chủ trương rà soát, sắp xếp lại các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương cũng đang được đặt ra.

Các doanh nghiệp Hà Nội hiện đang vướng ở “nút thắt” nào khi tiếp cận dòng vốn này, và việc sắp xếp lại các quỹ bảo lãnh có khiến doanh nghiệp lo ngại thiếu hụt “vốn mồi”?

- Nút thắt không chỉ là thiếu tiền, mà là khoảng cách giữa năng lực kinh doanh và khả năng chứng minh mức độ tín nhiệm. Doanh nghiệp có đơn hàng nhưng báo cáo tài chính, chứng từ và dòng tiền chưa đủ minh bạch thì ngân hàng vẫn khó quyết định cho vay.

Tôi ủng hộ hướng đánh giá bằng dữ liệu, dòng tiền trong dự thảo. Tuy nhiên, cho vay theo dòng tiền không phải hạ chuẩn tín dụng. Cần kiểm chứng hóa đơn, lịch sử thanh toán, chất lượng đối tác và khả năng thu hồi công nợ; không thể chỉ căn cứ một hợp đồng chưa chắc thực hiện được.

Hà Nội nên kết nối ngân hàng, đơn vị bảo lãnh và tổ chức tư vấn để hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn hóa hồ sơ. Dữ liệu phải được chia sẻ đúng thẩm quyền, bảo mật; quy trình thẩm định nên hạn chế yêu cầu nộp lại cùng một tài liệu. Đồng thời, cần phát triển tài trợ chuỗi cung ứng, bao thanh toán và cho thuê tài chính phù hợp từng nhu cầu.

Về sắp xếp các quỹ, cần phân biệt bảo lãnh tín dụng với cấp vốn trực tiếp. Quỹ bảo lãnh chủ yếu chia sẻ rủi ro để doanh nghiệp tiếp cận khoản vay; không mặc nhiên là nơi cấp “vốn mồi”.

Doanh nghiệp không nhất thiết cần giữ nguyên mọi đầu mối, nhưng cần giữ được chức năng hỗ trợ hiệu quả. Tôi kiến nghị xác định đơn vị kế thừa nghĩa vụ, nguồn dự phòng, trách nhiệm xử lý hồ sơ và phương án duy trì bảo lãnh trước khi sắp xếp. Cần cơ chế chia sẻ rủi ro minh bạch giữa ngân sách, quỹ và ngân hàng. Tinh gọn tổ chức không được tạo khoảng trống khiến một phương án kinh doanh tốt mất cơ hội tiếp cận vốn.

Mở cửa thị trường, ngăn trục lợi chính sách

- Đề xuất dành tối thiểu 20% tổng giá trị mua sắm sử dụng ngân sách nhà nước hằng năm và cơ chế dành các gói thầu thuộc phạm vi ưu đãi có giá không quá 20 tỷ đồng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là cơ hội mở rộng thị trường rất lớn. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đã lưu ý nguy cơ chia nhỏ gói thầu hoặc xuất hiện doanh nghiệp “bình phong” để trục lợi chính sách.

Hiệp hội đánh giá cần có những cơ chế hậu kiểm và giám sát nào để “bà đỡ” chính sách này đến đúng địa chỉ những doanh nghiệp làm ăn chân chính?

- Tôi đánh giá đây là cơ hội tạo đầu ra, nhưng ưu đãi phải đi cùng cạnh tranh và chất lượng. Cần hiểu tỷ lệ 20% được đề xuất theo tổng giá trị mua sắm sử dụng ngân sách, không phải số lượng gói thầu. Cơ chế không quá 20 tỷ đồng cũng chỉ áp dụng trong phạm vi loại gói thầu được quy định, không phải mọi gói thầu.

Ưu đãi đối với một số gói xây lắp, hàng hóa và hỗn hợp hàng hóa với xây lắp đã có tại Nghị quyết 198/2025/QH15. Vì vậy, điều cần hoàn thiện là tính thống nhất và khả năng thực thi, không tạo thêm một cơ chế lựa chọn nhà thầu song song.

Trước hết, cần kiểm soát từ kế hoạch mua sắm: Giải trình căn cứ hình thành gói thầu, ngăn chia nhỏ để né quy định. Tuy nhiên, không đánh đồng việc chia lô hợp lý theo chuyên môn với hành vi gian lận. Hồ sơ mời thầu phải tương xứng với công việc, không cài điều kiện loại doanh nghiệp nhỏ.

Tiếp đó, cần đối chiếu thông tin sở hữu, bên liên quan, năng lực thực hiện và phần việc nhà thầu trực tiếp đảm nhận. Hậu kiểm nên dựa trên rủi ro, tập trung vào dấu hiệu thông đồng, chuyển nhượng trái phép hoặc doanh nghiệp chỉ đứng tên. Dấu hiệu bất thường phải được xác minh, không tự động coi là vi phạm.

Phải công khai kết quả lựa chọn, tiến độ, thanh toán và cơ chế tiếp nhận phản ánh; thu hồi ưu đãi, xử lý gian lận theo pháp luật. Hiệp hội nên tham gia giám sát xã hội, không thay cơ quan thẩm định. Cần thanh toán đúng hạn. Một doanh nghiệp trúng thầu nhưng bị chậm thanh toán vẫn có thể thiếu vốn hoạt động. Chính sách phải tạo đơn hàng thực và dòng tiền thực.

Chuyển đổi phải tạo ra năng suất và sức cạnh tranh

- Trong bối cảnh Thủ đô đang thúc đẩy mạnh mẽ mô hình kinh tế số và kinh tế xanh, khối doanh nghiệp nhỏ và vừa đang đứng trước áp lực chuyển đổi rất lớn nhưng lại thiếu hụt nguồn lực và nhân lực chất lượng cao. Những điểm mới trong dự thảo Luật lần này về hỗ trợ chi phí chuyển đổi số, tín dụng xanh, cũng như cơ chế quản trị tối giản cho hộ kinh doanh chuyển đổi đã đủ sức “cởi trói” và tạo động lực bứt phá cho cộng đồng doanh nghiệp Hà Nội chưa, thưa ông?

- Tôi cho rằng các hướng hỗ trợ số hóa, chuyển đổi xanh và đơn giản hóa quản trị là đúng, nhưng chưa thể khẳng định chỉ cần đưa vào luật là đủ tạo đột phá.

Điều quyết định là doanh nghiệp tiếp cận được và sử dụng hiệu quả. Về chuyển đổi số, nên hỗ trợ trọn quy trình từ đánh giá nhu cầu, chuẩn hóa dữ liệu, lựa chọn giải pháp đến đào tạo vận hành. Không nên chỉ tài trợ mua phần mềm.

Doanh nghiệp cần quyền lựa chọn nhà cung cấp, mức đồng tài trợ phù hợp, yêu cầu bảo mật và tiêu chí nghiệm thu bằng năng suất, thời gian xử lý, mức giảm tồn kho.

Về chuyển đổi xanh, hỗ trợ lãi suất cần đi cùng hướng dẫn xác định dự án, tư vấn kỹ thuật và chi phí đo lường kết quả. Nên bắt đầu từ tiết kiệm điện, nguyên liệu, giảm chất thải; tránh đặt ngay bộ hồ sơ quá sức doanh nghiệp nhỏ. Tiêu chuẩn phải đáng tin cậy để ngăn việc gắn nhãn “xanh” chỉ nhằm hưởng ưu đãi.

Với hộ kinh doanh chuyển đổi, quản trị tối giản không có nghĩa miễn trách nhiệm. Cần xác định đúng đối tượng, giảm biểu mẫu trùng lặp nhưng vẫn bảo đảm nghĩa vụ thuế, lao động và bảo vệ khách hàng.

Tôi đề xuất gói đồng hành về kế toán, hóa đơn, quản trị trong giai đoạn đầu, gắn với hỗ trợ tiếp cận thị trường. Hà Nội nên có đầu mối tiếp nhận thống nhất, công khai mức hỗ trợ, thời hạn xử lý và kết quả. HANOISME có thể kết nối chuyên gia, tổng hợp nhu cầu, phản ánh vướng mắc. Thước đo cuối cùng không phải số doanh nghiệp nhận hỗ trợ, mà là số doanh nghiệp nâng được năng suất và đứng vững trên thị trường.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Vân Nga