hanoimoi.vn

Kinh tế

Chuyên gia hiến kế khơi thông động lực tăng trưởng hai con số

Phương Nga

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam cần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, kích hoạt các động lực đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và nâng cao năng suất, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Khơi thông điểm nghẽn, phát huy sức bật của nền kinh tế

GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, tạo nền tảng tích cực cho mục tiêu tăng trưởng cả năm. Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030, nền kinh tế cần những động lực thực chất hơn, thay vì chỉ dựa vào mở rộng đầu tư và tín dụng. Theo các chuyên gia, trọng tâm là tháo gỡ những rào cản đang cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và tạo sức lan tỏa giữa các khu vực kinh tế.

3-1-.jpg
Sản xuất hàng xuất khẩu tại Công ty CP Bóng đèn phích nước Rạng Đông. Ảnh: Hoài Nam

TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh, yêu cầu khơi thông nguồn lực đang bị đình trệ, nhất là tại các dự án tồn đọng, vướng mắc pháp lý kéo dài. Theo TS Nguyễn Đức Hiển, cần rút ngắn thủ tục đầu tư, nghiên cứu cơ chế huy động nguồn lực linh hoạt hơn và tăng tính chủ động cho địa phương. Quan trọng hơn, việc huy động nguồn lực phải đi đôi với hiệu quả sử dụng, tạo ra giá trị gia tăng và đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng.

Từ góc độ thực thi chính sách, điều này đòi hỏi chuyển từ tháo gỡ từng thủ tục riêng lẻ sang xử lý đồng bộ các vướng mắc về quy hoạch, đất đai, đầu tư và tổ chức thực hiện. Những dự án đủ điều kiện cần được đẩy nhanh tiến độ; trách nhiệm của từng cơ quan phải gắn với thời hạn và kết quả cụ thể. Khi nguồn lực được đưa vào hoạt động, nền kinh tế mới có thêm năng lực sản xuất, việc làm và nguồn thu.

Một động lực quan trọng khác là đầu tư công. Thay vì dàn trải nguồn lực, cần ưu tiên các công trình hạ tầng có khả năng kết nối vùng, giảm chi phí logistics và thúc đẩy đầu tư tư nhân. Tiến độ giải ngân phải đi cùng chất lượng công trình và hiệu quả kinh tế - xã hội, tránh tình trạng hoàn thành chỉ tiêu giải ngân nhưng tác động lan tỏa tới sản xuất, kinh doanh còn hạn chế.

Đối với nguồn vốn, TS Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu phát huy đồng thời ba kênh vốn gồm tín dụng ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán. Theo hướng tiếp cận này, cần phát triển thị trường vốn để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp huy động nguồn lực dài hạn và mở rộng đầu tư. Tuy nhiên, phát triển các kênh vốn phải gắn với minh bạch thông tin, nâng cao chất lượng quản trị và kiểm soát rủi ro, bảo đảm dòng tiền đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Bên cạnh đầu tư, kích cầu tiêu dùng và mở rộng thị trường xuất khẩu cũng cần được xác định là những nhiệm vụ trọng tâm. Các chính sách thúc đẩy sức mua nên gắn với việc làm, thu nhập của người dân, phát triển hệ thống phân phối và hỗ trợ doanh nghiệp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng. Đối với xuất khẩu, cần nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng liên kết với khu vực FDI.

Thực tế, chênh lệch về tốc độ tăng xuất khẩu giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước cho thấy giá trị lan tỏa của hoạt động xuất khẩu vẫn còn dư địa cải thiện. Vì vậy, cần thúc đẩy kết nối doanh nghiệp theo nhu cầu cụ thể của từng chuỗi cung ứng, hỗ trợ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Khi doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, tăng trưởng xuất khẩu mới chuyển hóa tốt hơn thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng trong nước.

Tăng năng suất, giữ vững ổn định vĩ mô

Cùng với việc phát huy các động lực truyền thống, nâng cao năng suất lao động và ứng dụng khoa học công nghệ là điều kiện để duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn. Doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ, cải tiến quản trị và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao; trong khi chính sách hỗ trợ cần tập trung tháo gỡ những khó khăn thực tế về chi phí đầu vào, công nợ, thủ tục hành chính và khả năng tiếp cận thị trường.

TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV cho rằng, Việt Nam cần nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực, thay vì chỉ chú trọng quy mô vốn đầu tư. Theo phân tích của chuyên gia, hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021-2025 ở mức khoảng 6 lần; mục tiêu giai đoạn 2026-2030 là giảm xuống 4,5-4,8 lần. Điều đó đòi hỏi mỗi đồng vốn đầu tư phải tạo ra hiệu quả kinh tế cao hơn, thông qua lựa chọn dự án có trọng tâm, cải thiện quản trị và nâng cao năng suất.

Đối với mục tiêu tăng trưởng năm 2026, TS Cấn Văn Lực cũng lưu ý không nên theo đuổi mốc 10% bằng mọi giá. Theo nhận định được nêu trong các thông tin về triển vọng kinh tế, tăng trưởng khoảng 9,7-10% vẫn có thể tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tiếp theo, nếu đi cùng ổn định vĩ mô và chất lượng tăng trưởng. Đây là góc nhìn nhấn mạnh rằng thành tích tăng trưởng cần được đánh giá cả về tính bền vững, khả năng tạo việc làm và hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long lưu ý áp lực lạm phát trong bối cảnh chi phí năng lượng, nguyên vật liệu và vận tải có thể biến động. Với CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52%, điều hành những tháng cuối năm cần thận trọng trước nguy cơ giá đầu vào truyền dẫn vào giá hàng hóa, dịch vụ. Nếu lạm phát tăng cao, sức mua của người dân có thể suy giảm, còn chi phí sản xuất và chi phí vốn của doanh nghiệp tiếp tục bị đẩy lên.

Từ góc độ này, chính sách thúc đẩy tăng trưởng cần được phối hợp chặt chẽ giữa tài khóa, tiền tệ và các giải pháp bảo đảm nguồn cung. Việc hỗ trợ doanh nghiệp nên hướng vào những điểm nghẽn cụ thể, như đẩy nhanh hoàn thuế, xử lý công nợ, giảm chi phí logistics và cải thiện môi trường kinh doanh. Đồng thời, cần tránh mở rộng tín dụng thiếu kiểm soát hoặc thúc đẩy tổng cầu bằng những biện pháp có thể làm gia tăng sức ép giá cả.

Một yêu cầu khác là nâng cao năng lực tăng trưởng của các địa phương, nhất là những trung tâm kinh tế có đóng góp lớn vào GDP cả nước. Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương đầu tàu cần khai thác tốt hơn lợi thế về dịch vụ, công nghệ, nhân lực và thị trường; đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm và nâng cao hiệu quả quản trị. Tăng trưởng tại các trung tâm lớn sẽ tạo sức lan tỏa tới các địa phương lân cận, qua đó củng cố động lực phát triển chung.

Phương Nga