hanoimoi.vn

Kinh tế

Khơi thông dòng vốn, không thể chỉ trông vào tín dụng ngân hàng

Phương Nga

Mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026–2030 đòi hỏi Việt Nam huy động nguồn vốn lớn, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn. Để đáp ứng yêu cầu này, cần đa dạng hóa kênh dẫn vốn, tháo gỡ các nguồn lực đang ách tắc.

Đây là nhận định chung của các chuyên gia, nhà quản lý tại sự kiện “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”, diễn ra ngày 22-10.

ben05469.jpg
Quang cảnh hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”. Ảnh: BTC

Áp lực vốn lớn, điểm nghẽn còn hiện hữu

Phát biểu gợi mở tại hội thảo “Khơi thông dòng vốn, giải phóng nguồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số”, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho biết, nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế trong giai đoạn 2026–2030 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Quy mô vốn rất lớn đặt ra yêu cầu huy động đồng thời nhiều nguồn lực, từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến khu vực tư nhân và thị trường tài chính. Nếu các kênh huy động vốn không được mở rộng tương xứng, mục tiêu tăng trưởng cao sẽ chịu sức ép đáng kể.

Phân tích về khả năng huy động tài lực, TS Cấn Văn Lực cho rằng, vốn ngân sách nhà nước dự kiến đóng góp khoảng 8,5 triệu tỷ đồng; vốn FDI thực hiện khoảng 4,8 triệu tỷ đồng; phần còn lại, khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, cần được huy động từ khu vực tư nhân trong nước và các nguồn khác. Điều đó cho thấy khu vực tư nhân giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đồng thời đòi hỏi môi trường kinh doanh và thị trường vốn phải đủ sức hấp dẫn để chuyển hóa nguồn tiền nhàn rỗi thành đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, cơ cấu cung ứng vốn hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Đến tháng 9-2026, tín dụng ngân hàng chiếm khoảng 50,2% tổng nguồn cung vốn, tăng so với mức 36% năm 2020. Trong khi đó, trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 10%, còn phát hành cổ phiếu chiếm khoảng 3,1%. Cơ cấu này phản ánh vai trò áp đảo của tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh huy động vốn trung và dài hạn chưa phát huy đầy đủ tiềm năng.

Sự phụ thuộc đó tạo sức ép lên khả năng cân đối nguồn vốn của hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đạt 144,3% năm 2025; đến cuối tháng 9-2026, chênh lệch giữa tín dụng và tiền gửi lên khoảng 2 triệu tỷ đồng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn tiếp tục tăng, nếu doanh nghiệp chủ yếu dựa vào vay ngân hàng, áp lực thanh khoản, chi phí vốn và rủi ro kỳ hạn có thể gia tăng.

ben05344.jpg
TS Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phát biểu tại sự kiện. Ảnh: BTC

Vấn đề không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Báo cáo của TS Nguyễn Thị Ngọc Hà, chuyên gia kinh tế chỉ ra những khó khăn liên quan đến chi phí đầu vào, dòng tiền, các khoản phải thu và sức mua thị trường. Khi đầu ra thiếu ổn định, vốn lưu động bị chiếm dụng hoặc chi phí kinh doanh tăng cao, doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất ngay cả khi có cơ hội đầu tư. Giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế cũng ảnh hưởng đến khả năng tích lũy và tái đầu tư.

Thực tế này cho thấy khơi thông dòng vốn không thể chỉ được hiểu là tăng thêm tiền cho vay. Nếu doanh nghiệp thiếu đơn hàng, dòng tiền yếu hoặc vướng thủ tục pháp lý, việc bổ sung tín dụng chưa chắc tạo ra tăng trưởng tương ứng. Ngược lại, vốn có thể tiếp tục tập trung vào những lĩnh vực đã hấp thụ nhiều nguồn lực, trong khi các doanh nghiệp có dự án khả thi lại khó tiếp cận.

Đa dạng hóa kênh vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực

Để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, phát triển thị trường vốn là yêu cầu cấp thiết. Theo TS Cấn Văn Lực, thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp cần được củng cố để trở thành kênh huy động nguồn lực trung và dài hạn hiệu quả hơn. Muốn vậy, cần nâng cao tính minh bạch, chất lượng công bố thông tin, trách nhiệm của tổ chức phát hành và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Niềm tin thị trường là điều kiện quan trọng để khơi thông dòng vốn từ khu vực dân cư và các tổ chức đầu tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Cùng với đó, cần mở rộng các hình thức tài trợ phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những công cụ như tài trợ dựa trên hóa đơn, khoản phải thu, hoàn thuế giá trị gia tăng đúng hạn hay định giá tài sản trí tuệ để làm cơ sở tiếp cận vốn có thể góp phần giải quyết khó khăn về dòng tiền. Các nguồn tài chính xanh và tài chính số cũng cần được phát triển theo hướng minh bạch, có tiêu chí rõ ràng và gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

ben05326_1792637267.jpg
Các diễn giả, chuyên gia tham dự hội thảo. Ảnh: BTC

Một vấn đề khác là giải phóng nguồn lực đang bị đình trệ. Các dự án chậm triển khai, tài sản công chưa được khai thác hiệu quả và những vướng mắc về thủ tục đầu tư, đất đai cần được rà soát, xử lý theo thẩm quyền. Nguồn lực đã huy động nhưng không được đưa vào sử dụng sẽ làm tăng chi phí cơ hội, trong khi nền kinh tế vẫn phải tìm kiếm nguồn vốn mới. Vì vậy, tháo gỡ vướng mắc pháp lý và đẩy nhanh tiến độ dự án phải đi cùng với nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý, chủ đầu tư.

Theo ông Nguyễn Viết Việt, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử Kinh tế Chứng khoán Việt Nam – Trưởng Ban tổ chức sự kiện, việc khơi thông dòng vốn cần được đặt trong tổng thể các giải pháp về pháp lý, tài chính, đầu tư và kích cầu thị trường. Cải thiện khả năng tiếp cận vốn sẽ khó tạo hiệu quả bền vững nếu những trở ngại đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh chưa được xử lý đồng bộ. Do đó, chính sách cần hướng tới cả hai mục tiêu: giúp doanh nghiệp có nguồn lực đầu tư và tạo điều kiện để nguồn lực đó chuyển hóa thành năng lực sản xuất, việc làm và giá trị gia tăng.

Hiệu quả đầu tư cũng cần được coi trọng tương đương với quy mô huy động vốn. Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021–2025 ở mức 6,0, cho thấy yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vẫn rất lớn. Khi vốn đầu tư tăng nhanh nhưng năng suất, chất lượng tăng trưởng và giá trị tạo ra chưa cải thiện tương xứng, áp lực huy động nguồn lực sẽ ngày càng nặng nề.

Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đòi hỏi huy động thêm vốn mà còn phải sử dụng vốn đúng trọng tâm, ưu tiên dự án có khả năng lan tỏa, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng năng suất lao động. Đầu tư công cần phát huy vai trò dẫn dắt, tạo hạ tầng và mở đường cho đầu tư tư nhân; còn thị trường vốn phải trở thành kênh bổ sung thực chất cho tín dụng ngân hàng.

Phương Nga