hanoimoi.vn

Xã hội

Hợp tác Hà Nội - viện, trường, góp phần “nâng chất” quản trị công: Bài 3: Kết nối cơ quan quản lý với viện, trường, doanh nghiệp

Trí Nhân

Từ việc ứng dụng OKR/KPI trong quản trị công việc đến giải quyết những vấn đề phức tạp của đô thị, Hà Nội cần nhiều hơn các giải pháp công nghệ đơn lẻ. Điều quan trọng là hình thành cơ chế kết nối thường xuyên, hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước với các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, để tri thức khoa học tham gia trực tiếp quá trình hoạch định chính sách, giải pháp.

Giảm thủ tục, chú trọng kết quả

Dù thành phố đã triển khai nhiều chương trình, kế hoạch nhằm huy động chuyên gia, nhà khoa học, trường đại học tham gia nghiên cứu, đề xuất và ứng dụng giải pháp mới trong quản trị công, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và các cơ sở nghiên cứu vẫn còn những khoảng trống. PGS.TS Trần Mạnh Huy, Ủy viên Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đánh giá, việc thành phố chủ động “đặt hàng” các viện, trường là một chuyển biến đáng mừng.

Thay vì để nhà khoa học tự tìm đề tài, chính quyền đưa ra những vấn đề cần giải quyết, từ đó huy động các nhóm nghiên cứu có năng lực cùng tham gia. Tuy nhiên, đặt hàng đề tài mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng nhất vẫn là kết quả nghiên cứu có được sử dụng hay không, có giúp hiệu quả quản trị của cơ quan quản lý nhà nước tốt hơn, người dân thuận tiện hơn hay không. Bởi, một công trình khoa học phục vụ quản trị công chỉ thực sự thành công khi giá trị của nó được thể hiện trong đời sống.

t7-quantricong.jpg
Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ký thỏa thuận hợp tác với Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội) đào tạo, nghiên cứu, tổ chức các hoạt động văn hóa - nghệ thuật và phát huy giá trị văn hóa Thủ đô, tháng 3-2026. Ảnh: VNU-SIS

Qua quá trình hợp tác triển khai các dự án nghiên cứu với các đơn vị, sở, ngành thành phố, đại diện một số nhà trường cho biết, việc phối hợp vẫn còn những điểm vướng mắc. Chẳng hạn, do thời gian phê duyệt kéo dài, thời gian triển khai thực tế nhiều khi bị rút ngắn. Bên cạnh đó, việc huy động và sử dụng nguồn lực giảng viên, thiết bị, tài chính đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các sở, ngành, song trên thực tế, cơ chế phối hợp này vẫn chưa thực sự đồng bộ, nhịp nhàng. PGS.TS Phạm Minh Anh, Hiệu trưởng Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong đánh giá, quy trình xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, nghiệm thu có khi kéo dài khoảng 2-3 năm. Trong khi đó, nhà quản lý cần câu trả lời trong vài tháng. Khi kết quả ra đời, bối cảnh đã khác, nhất là trong giai đoạn bộ máy vừa sắp xếp lại theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Cùng với đó là sự khác biệt về mục tiêu, cách thức làm việc và tiêu chí đánh giá. TS Bùi Phương Đình, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công cho rằng, trong các trường đại học, việc nghiên cứu thường được xem là tiêu chuẩn bắt buộc gắn với công bố, công trình, đánh giá năng lực cán bộ giảng viên. Trong khi đó, cơ quan quản lý nhà nước, xã hội, doanh nghiệp lại cần cách giải quyết các bài toán cụ thể. Một vấn đề nữa được TS Bùi Phương Đình chỉ ra là cơ chế đặt hàng của các cơ quan chủ quản. Việc chuyển một vấn đề thực tế thành “đề bài” dưới ngôn ngữ khoa học vẫn là khâu chưa tốt. Bên cạnh đó, việc quản lý, nghiệm thu và thanh quyết toán còn nặng về kiểm soát đầu vào.

“Cơ chế hiện nay vẫn nặng về kiểm soát đầu vào, tiến trình, hoạt động. Đây là câu chuyện trường kỳ và cần có hướng xử lý trong thời gian tới”, TS Bùi Phương Đình nêu. Theo ông, việc công bố các bài toán khoa học, công nghệ và mời nhà khoa học, doanh nghiệp tham gia đề xuất nghiên cứu ở Hà Nội là những sáng kiến hữu ích, nhưng cần được triển khai theo hướng giảm thủ tục hành chính, chú trọng kết quả và đầu ra cho cả quy trình đề bài - đề xuất - nghiên cứu - triển khai - ứng dụng.

Đồng quan điểm, PGS.TS Trần Mạnh Huy cho rằng, cơ quan quản lý và nhà khoa học đôi khi chưa gặp nhau ở đúng vấn đề cần giải quyết. Cơ quan quản lý hiểu những khó khăn trong công việc hằng ngày. Ngược lại, nhà khoa học có chuyên môn sâu, có phương pháp và công nghệ, nhưng nếu không hiểu đầy đủ thực tế vận hành của cơ quan nhà nước thì giải pháp đưa ra có thể rất tốt về mặt khoa học mà lại khó áp dụng. PGS.TS Trần Mạnh Huy lấy ví dụ, nếu đặt hàng nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ cải cách thủ tục hành chính thì phải xác định rõ muốn giải quyết khâu nào, đang mất bao nhiêu thời gian, cần giảm được bao nhiêu, dữ liệu lấy từ đâu và đơn vị nào sẽ sử dụng kết quả.

“Từ kinh nghiệm thực tế, tôi cho rằng nên thay đổi cách đặt hàng. Cơ quan quản lý nhà nước của thành phố cần nói rõ mình muốn giải quyết vấn đề gì, kết quả mong đợi ra sao, còn cách thực hiện nên dành không gian cho các nhà khoa học và doanh nghiệp đề xuất. Đồng thời, ngay khi giao nhiệm vụ, phải xác định được đơn vị nào sẽ tiếp nhận, ai chịu trách nhiệm đưa kết quả vào sử dụng và nguồn lực để tiếp tục vận hành sau nghiên cứu”, PGS.TS Trần Mạnh Huy khuyến nghị.

Bên cạnh tiêu chí rõ đầu ra với việc đề tài nghiên cứu phải xác định đối tượng thụ hưởng thực sự là ai (cơ quan quản lý, doanh nghiệp hay người dân), các chuyên gia cũng cho rằng, đối tượng thụ hưởng cần được tham gia sâu, có trách nhiệm, thông qua cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời để nhà khoa học có đủ dữ liệu giải “bài toán”.

Gỡ bỏ tâm lý ngần ngại

Khả năng tiếp cận dữ liệu là điều kiện quan trọng cho nghiên cứu chính sách phục vụ quản trị công. Nếu thiếu thông tin về quy trình, đối tượng thụ hưởng hoặc kết quả vận hành, nhà khoa học khó xác định đúng nguyên nhân của vấn đề. Ngược lại, việc chia sẻ dữ liệu từ cơ quan nhà nước phải tuân thủ quy định về bảo vệ thông tin, bí mật và an toàn hệ thống dữ liệu.

Theo PGS.TS Trần Mạnh Huy, nghiên cứu muốn có kết quả tốt, phải được tiếp cận dữ liệu thực tế và có điều kiện thử nghiệm. Tuy nhiên, việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước với viện, trường, doanh nghiệp còn nhiều trở ngại. Chúng ta cần tháo gỡ những trở ngại này; đồng thời xây dựng quy định rõ ràng về phạm vi sử dụng, bảo vệ dữ liệu và trách nhiệm của từng bên.

Ngoài ra, PGS.TS Trần Mạnh Huy cho rằng, cơ chế tài chính, thủ tục thực hiện và việc tiếp nhận kết quả nghiên cứu cũng cần được xem xét. Nghiên cứu khoa học có đặc thù riêng, có những hướng nghiên cứu phải thử nghiệm nhiều lần mới tìm được giải pháp phù hợp. Nếu áp dụng cách quản lý quá cứng nhắc, nhà khoa học sẽ khó phát huy khả năng sáng tạo.

Hiện tại, nhiều nhà trường đánh giá mức đãi ngộ dành cho các nhà khoa học, giảng viên đã hợp lý. Tuy nhiên, bất cập nằm ở tốc độ giải ngân và thủ tục mua sắm (vật tư, thiết bị...). Do quy trình phê duyệt, đấu thầu kéo dài, từ lúc lập thuyết minh đến khi thực hiện, giá cả thay đổi khiến kinh phí ban đầu không còn đủ hoặc không đúng thực tế. Bên cạnh đó, cơ chế mua sắm công chưa linh hoạt, làm chậm tiến độ, làm mất tính thời sự của đề tài. Vì vậy, cần có cơ chế xử lý linh hoạt khi phát sinh biến động giá.

Nghiên cứu, chuyển giao kết quả, đưa vào ứng dụng trong quản trị công luôn chứa đựng những yếu tố mới và rủi ro phát sinh. Nếu áp dụng các quy định quản lý cứng nhắc, tâm lý sợ sai sẽ triệt tiêu nỗ lực sáng tạo. Thực tế, Nghị quyết số 26/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố Hà Nội về thử nghiệm có kiểm soát đã tạo hành lang cho những công nghệ, sản phẩm, mô hình mới được thử nghiệm trong trường hợp pháp luật hiện hành chưa có quy định hoặc quy định chưa phù hợp.

Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, những vướng mắc về thủ tục không chỉ nằm ở quá trình tổ chức thực hiện, mà còn liên quan đến cách áp dụng các quy định pháp luật. Lưu ý quy định về đặt hàng nhiệm vụ khoa học, công nghệ có thể giao thoa với pháp luật về đấu thầu, dễ làm nảy sinh câu hỏi, TS Lê Thương Huyền, Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đề xuất, thành phố cần ban hành nghị quyết chuyên biệt xác định rõ loại hình nhiệm vụ khoa học, công nghệ đặc thù, không phải mua sắm hàng hóa, dịch vụ thông thường.

TS Bùi Phương Đình kiến nghị Hà Nội phát triển một hệ sinh thái nghiên cứu học thuật, đặc biệt là cần lấp đầy “khâu trung gian” giữa nhà trường, chính quyền, doanh nghiệp, tạo quy trình liên thông, có trách nhiệm và có khả năng kiểm chứng kết quả.

Hà Nội đang có những lợi thế đặc biệt về nguồn lực tri thức. Thành phố cũng đã có những bước đi cụ thể để tăng cường đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào giải quyết các bài toán của Thủ đô, nâng cao chất lượng quản trị công. Vấn đề cốt lõi hiện nay là tạo dựng được cơ chế kết nối thông suốt giữa chính quyền với nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, tháo gỡ mọi rào cản, điểm nghẽn để đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học có thể phát huy đầy đủ năng lực, trở thành nguồn lực trực tiếp cho công cuộc xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ.

(Còn nữa)

Trí Nhân