hanoimoi.vn

Góc nhìn

Giảm lãi suất - Cần thực chất và bền vững

Hồng Anh

Lãi suất là giá của vốn, chịu tác động bởi quan hệ cung - cầu tiền tệ, chi phí huy động và mức độ rủi ro. Mỗi ngân hàng có điều kiện kinh doanh và năng lực tài chính khác nhau nên không thể kỳ vọng tất cả cùng giảm lãi suất với mức độ và tốc độ như nhau.

Nếu lãi suất cho vay giảm mạnh trong khi chi phí huy động vốn vẫn ở mức cao, biên lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị thu hẹp, khiến việc duy trì mặt bằng lãi suất thấp trở nên khó khăn.

Ngược lại, nếu lãi suất tiền gửi giảm quá nhanh, dòng tiền có thể dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác, gây áp lực lên nguồn vốn phục vụ hoạt động cho vay.

Chủ trương giảm lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết, song cần phân biệt rõ giữa định hướng điều hành và việc áp đặt mức giảm bằng mệnh lệnh hành chính. Yêu cầu từ cơ quan quản lý có thể tạo động lực ban đầu, nhưng để lãi suất giảm bền vững, vẫn cần những điều kiện thị trường phù hợp. Nếu chỉ chú trọng giảm nhanh, giảm mạnh mà chưa tính đến khả năng thực tế của từng ngân hàng, hiệu quả hỗ trợ có thể không đạt được như kỳ vọng.

Đáng chú ý, lãi suất giảm trên bảng niêm yết chưa chắc đồng nghĩa với việc người vay được hưởng lợi tương xứng. Một số chương trình ưu đãi chỉ áp dụng trong thời gian ngắn hoặc giới hạn ở những nhóm khách hàng nhất định. Khi hết thời gian ưu đãi, lãi suất có thể tăng trở lại. Chưa kể, nếu người vay phải gánh thêm các khoản phí thiếu minh bạch hoặc bị ràng buộc sử dụng những dịch vụ không cần thiết, lợi ích từ việc giảm lãi suất có thể bị triệt tiêu.

Bởi vậy, điều cần quan tâm không chỉ là có bao nhiêu ngân hàng công bố giảm lãi suất, mức giảm bao nhiêu, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp và người dân thực sự tiết kiệm được bao nhiêu chi phí vay vốn. Nói cách khác, hiệu quả của chính sách phải được đo bằng lợi ích thực tế mà người vay nhận được, thay vì chỉ dừng lại ở những con số được công bố.

Để giảm lãi suất thực chất, trước hết, Ngân hàng Nhà nước cần điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường, tạo điều kiện để các ngân hàng giảm chi phí vốn. Chính sách điều hành phải tính đến các yếu tố như: Lạm phát, tỷ giá, nhu cầu tín dụng và khả năng huy động tiền gửi. Khi nguồn vốn được bảo đảm và chi phí huy động giảm, các ngân hàng mới có thêm dư địa hạ lãi suất cho vay.

Cùng với đó, cần tránh cách tiếp cận cào bằng giữa các ngân hàng. Những ngân hàng có nguồn vốn ổn định, hoạt động hiệu quả và kiểm soát tốt chi phí có thể chủ động giảm lãi suất nhiều hơn. Việc giảm lãi suất cần gắn với năng lực tài chính của từng tổ chức tín dụng, đồng thời bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống.

Về phía các ngân hàng thương mại, việc tiết giảm chi phí hoạt động, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nâng cao hiệu quả quản trị và xử lý nợ xấu là những giải pháp căn cơ để mở rộng dư địa giảm lãi suất. Đây là hướng đi bền vững hơn so với việc chỉ chấp nhận thu hẹp lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng trong ngắn hạn.

Đồng thời, các ngân hàng cần ưu tiên nguồn vốn với chi phí hợp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhóm đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Đặc biệt, phải kiểm soát chặt chẽ chi phí vay vốn thực tế. Các ngân hàng cần công khai, minh bạch lãi suất áp dụng, thời gian ưu đãi, phương thức xác định lãi suất sau ưu đãi, các khoản phí và điều kiện đi kèm.

Cơ quan quản lý cũng cần tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi thu phí trái quy định, ép buộc khách hàng mua bảo hiểm hoặc sử dụng dịch vụ khác để được vay vốn. Không thể để lãi suất giảm trên danh nghĩa nhưng các khoản chi phí phát sinh lại tăng lên, khiến người vay không được hưởng lợi thực chất.

Công tác giám sát cũng cần đi vào kết quả cụ thể, thay vì chỉ dừng ở việc thống kê số ngân hàng cam kết giảm lãi suất hay quy mô các gói tín dụng ưu đãi. Cần làm rõ có bao nhiêu khách hàng thực sự được tiếp cận mức lãi suất thấp hơn, bao nhiêu vốn được giải ngân và tổng chi phí vay vốn mà khách hàng tiết kiệm được là bao nhiêu.

Giảm lãi suất là giải pháp quan trọng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư và tạo động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không nằm ở những cam kết hay mức giảm được công bố, mà ở khả năng giúp doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí thực sự thấp hơn, cùng các điều kiện vay minh bạch và ổn định.

Điều hành linh hoạt theo tín hiệu thị trường, kiểm soát chặt chẽ chi phí vay thực tế và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng chính là những yếu tố quyết định để chính sách giảm lãi suất phát huy hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực và bền vững cho nền kinh tế.

Hồng Anh