Nông sản Việt Nam và yêu cầu nâng sức cạnh tranh
Sau nhiều năm mở rộng sản xuất và thị trường, nhiều ngành hàng nông sản Việt Nam đã đạt quy mô xuất khẩu lớn. Tuy nhiên, diễn biến về sản lượng, giá và giá trị xuất khẩu đang đặt ra yêu cầu chuyển mạnh sang nâng chất lượng, đẩy mạnh chế biến, xây dựng thương hiệu và nâng giá trị nông sản.

Áp lực mới sau tăng trưởng về quy mô
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 9 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu đạt 16,9 tỷ USD. Tuy nhiên, ở một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực, tăng sản lượng không còn đồng nghĩa với tăng giá trị. Xuất khẩu cà phê đạt 1,44 triệu tấn, tăng 15,4% về lượng nhưng kim ngạch giảm 7,3%, còn 6,54 tỷ USD do giá xuất khẩu bình quân giảm 19,7%. Xuất khẩu gạo giảm 6,1% về lượng và 10,9% về giá trị, trong khi giá xuất khẩu bình quân giảm 5,1%.
Trước diễn biến này, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Võ Văn Hưng cho rằng, dư địa tăng trưởng của các ngành hàng nông, lâm, thủy sản không còn chỉ nằm ở việc gia tăng sản lượng. Trọng tâm được đặt vào nâng chất lượng, giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu và chuyển đổi số.
Tại cuộc làm việc với các hiệp hội, doanh nghiệp ngành hàng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ngày 25-9, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cũng đặt vấn đề không chỉ nhìn vào sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu, mà cần quan tâm đến giá trị gia tăng và phần giá trị người sản xuất được hưởng.
Câu chuyện của ngành sầu riêng là một ví dụ cho thấy những vấn đề đặt ra khi quy mô sản xuất tăng nhanh. Giai đoạn 2020 - 2025, diện tích sầu riêng cả nước tăng từ hơn 70.000ha lên khoảng 195.000ha, sản lượng tăng từ khoảng 600.000 tấn lên 1,8 triệu tấn. Theo Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quốc Mạnh, sự phát triển quá nhanh đã bộc lộ những khó khăn trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ. Một số địa phương phát triển sầu riêng tại những vùng chưa phù hợp với điều kiện sinh thái; diện tích tăng nhanh cũng tạo áp lực lên quản lý giống, sinh vật gây hại, chất lượng sản phẩm và mã số vùng trồng.
Theo Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam Nguyễn Nam Hải, trong 8 tháng năm 2026, cà phê nhân vẫn chiếm hơn 91% tổng lượng cà phê xuất khẩu; cà phê chế biến sâu chỉ chiếm gần 9% về lượng nhưng tạo ra 17,9% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê.
Việc kiểm soát chất lượng, vì thế, phải được thực hiện từ sớm trong chuỗi sản xuất. Xét trên phạm vi cả nước, mức độ tham gia chuỗi liên kết của các hợp tác xã vẫn còn hạn chế. Theo Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Cao Xuân Thu Vân, gần 4.700 hợp tác xã đã tham gia liên kết theo chuỗi giá trị nhưng số hợp tác xã có liên kết chính thức mới chiếm chưa đến 20%.
Ở phạm vi vùng nguyên liệu, kết quả thí điểm giai đoạn 2022 - 2025 cho thấy quy mô các vùng tham gia đạt khoảng 169.800ha đã hình thành liên kết với doanh nghiệp, so với khoảng 17.000ha ban đầu. Quá trình thí điểm đồng thời bộc lộ những điểm nghẽn: Hạ tầng dùng chung tại một số vùng chưa đồng bộ; năng lực tổ chức sản xuất, quản trị hợp tác xã và ứng dụng số còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã với người sản xuất chưa chặt chẽ...
Sự phân vai giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị nông sản cũng được xác định trong Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030. Theo đó, hợp tác xã tổ chức sản xuất, điều phối vùng nguyên liệu; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, chế biến và tiêu thụ; người sản xuất là chủ thể trực tiếp tham gia chuỗi giá trị.
Xây dựng chuỗi liên kết giá trị
Phân định rõ vai trò của từng chủ thể là cơ sở để tổ chức chuỗi giá trị nông sản nhưng để sự phân vai đó vận hành trong thực tế còn cần những nguồn lực tương ứng. Với doanh nghiệp, đó có thể là vốn để thu mua, dự trữ nguyên liệu hoặc đầu tư chế biến; với hợp tác xã và người sản xuất là điều kiện để tổ chức sản xuất và duy trì liên kết.
Từ ngành lúa gạo, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam Đỗ Hà Nam cho rằng, một trong những điểm yếu hiện nay là người trồng lúa chưa có đủ điều kiện để giữ lúa và lựa chọn thời điểm bán. Khi đến vụ thu hoạch, nông dân cần tiền để trang trải chi phí và tiếp tục sản xuất nên thường phải bán ngay. Khi một lượng lớn lúa cùng được đưa ra thị trường trong thời gian ngắn, người sản xuất ở vị thế bất lợi về giá. Trong khi đó, với một số ngành hàng có khả năng bảo quản tốt hơn như cà phê, người sản xuất có điều kiện chủ động hơn trong lựa chọn thời điểm bán.
Nếu chuỗi có năng lực thu mua và tạm trữ đủ lớn, doanh nghiệp có thể tăng thu mua, ứng vốn và phối hợp với hợp tác xã, qua đó giúp nông dân giảm áp lực phải bán ngay khi nguồn cung tập trung và giá bất lợi. Ông Đỗ Hà Nam kiến nghị, các doanh nghiệp có năng lực thu mua, dự trữ, chế biến và xuất khẩu gạo được tiếp cận hạn mức tín dụng, thời hạn vay và lãi suất phù hợp, đặc biệt trong thời điểm thu hoạch rộ. Mục tiêu, theo ông, không phải Nhà nước can thiệp để giữ giá, mà tạo năng lực tài chính cho chuỗi để người nông dân có thêm khả năng lựa chọn thời điểm bán.
Với chế biến, bài toán vốn lại mang tính dài hạn hơn. Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam Đinh Cao Khuê, đầu tư nhà máy chế biến rau quả cần nguồn vốn lớn, thời gian thu hồi vốn có thể kéo dài 10 - 15 năm, đồng thời phải xây dựng vùng nguyên liệu đủ quy mô, chất lượng và liên kết ổn định với người sản xuất. Do đó, ông Đinh Cao Khuê đề nghị có các khoản vay 10 - 15 năm cho đầu tư chế biến, với lãi suất thông thường chứ không nhất thiết phải là vốn ưu đãi. Kỳ hạn vay dài sẽ phù hợp hơn với thời gian thu hồi vốn và quá trình hình thành vùng nguyên liệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư các trung tâm chế biến gắn với vùng sản xuất.
Khi đầu tư chế biến gắn với tổ chức vùng nguyên liệu và liên kết sản xuất, doanh nghiệp có điều kiện ổn định nguồn cung, còn nông sản của người dân có thêm đầu ra ngay tại vùng sản xuất. Đầu tư cho chế biến vì thế đồng thời tạo điều kiện nâng giá trị sản phẩm và ổn định đầu ra cho vùng nguyên liệu.
Đề án phát triển vùng nguyên liệu nông, lâm, thủy sản tập trung giai đoạn 2026 - 2030 cũng xác định Nhà nước tập trung đầu tư hạ tầng công cộng, thiết yếu có tác động lan tỏa; hỗ trợ nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, chuyển đổi số, thông tin thị trường, xúc tiến thương mại, tiêu chuẩn chất lượng, mã số vùng và truy xuất nguồn gốc.
Tổ chức lại chuỗi vì thế không chỉ nhằm nâng giá trị nông sản hay tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư chế biến. Một thước đo quan trọng là người sản xuất giảm được chi phí, ổn định đầu ra, nâng thu nhập và nâng năng lực sản xuất như thế nào.
Thực tế triển khai Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tại một số mô hình, việc giảm giống, phân bón và chi phí đầu vào giúp lợi nhuận của nông dân tăng khoảng 9 - 10,5 triệu đồng/ha so với canh tác truyền thống; thay đổi phương thức sản xuất, từ gieo sạ, sử dụng phân bón, quản lý nước đến ứng dụng thiết bị bay không người lái và nhật ký điện tử. Tại các vùng nguyên liệu thí điểm giai đoạn 2022 - 2025, hơn 5.500 lượt cán bộ quản lý và thành viên hợp tác xã đã được đào tạo. Tại một số vùng liên kết, lúa được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao hơn bên ngoài khoảng 10%.
Việc tổ chức chuỗi còn tác động đến khả năng dự tính đầu ra và dòng tiền. Tại xã Khánh Bình, tỉnh Cà Mau, kế hoạch liên kết vụ hè thu 2026 đặt ra việc doanh nghiệp chốt giá trước thu hoạch 10 ngày, phấn đấu thu mua 90 - 100% sản lượng liên kết và thanh toán trong vòng 5 - 7 ngày sau thu hoạch.
Phần người nông dân nhận được từ chuỗi vì thế không chỉ là giá bán hay lợi nhuận của một vụ sản xuất, mà còn là đầu ra ổn định hơn, khả năng chủ động hơn trong quyết định bán và năng lực đáp ứng những phương thức, tiêu chuẩn sản xuất mới. Khi nhiều ngành hàng nông, lâm, thủy sản đã tạo dựng được quy mô sản xuất và xuất khẩu lớn, bài toán tiếp theo không chỉ là làm ra nhiều hơn, mà là tổ chức được chuỗi từ thị trường trở lại vùng nguyên liệu, tiến sâu hơn vào chế biến, sản phẩm và thương hiệu, đồng thời nâng phần giá trị người sản xuất được hưởng.
ThS Đặng Đình Nam