“Kinh tế bạc” – Đánh thức nguồn lực tuổi già
Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011. Dự báo, xu thế này tiếp tục gia tăng với tốc độ nhanh chóng trong những thập niên tới, đặt ra không ít thách thức nhưng cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển nền "kinh tế bạc" – bao gồm toàn bộ hoạt động liên quan việc sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người cao tuổi, cũng như những đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của người cao tuổi trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Vậy trong 15 năm qua, chúng ta đã làm được gì để một mặt chăm lo, đáp ứng những nhu cầu đa dạng về sức khỏe, đời sống, đồng thời phát huy hiệu quả tri thức, kinh nghiệm, nguồn lực từ những bậc “cây cao, bóng cả”? Loạt bài “Kinh tế bạc” - Đánh thức nguồn lực tuổi già của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội góp phần lý giải câu hỏi này, cũng như gợi mở những vấn đề về mặt chính sách.
Vậy trong 15 năm qua, chúng ta đã làm được gì để một mặt chăm lo, đáp ứng những nhu cầu đa dạng về sức khỏe, đời sống, đồng thời phát huy hiệu quả tri thức, kinh nghiệm, nguồn lực từ những bậc “cây cao, bóng cả”? Loạt bài “Kinh tế bạc” – Đánh thức nguồn lực tuổi già của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội góp phần lý giải câu hỏi này, cũng như gợi mở những vấn đề về mặt chính sách.



Theo Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, với khoảng 17 triệu người cao tuổi (NCT) hiện tại, dự báo đến năm 2050 con số này sẽ đạt khoảng 28 triệu, Việt Nam đang trong quá trình già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới.
Tuy nhiên, đi cùng với những thách thức ấy là cơ hội to lớn. Nhu cầu ngày càng gia tăng của NCT về y tế, dinh dưỡng, thể thao, du lịch, bảo hiểm và công nghệ thông minh đang mở ra một thị trường giàu tiềm năng. Hơn thế, NCT không chỉ là đối tượng cần chăm sóc, mà còn tiếp tục là chủ thể đóng góp. Theo báo cáo của Trung ương Hội NCT Việt Nam, trên 9 triệu người vẫn trực tiếp tham gia lao động, sản xuất, kinh doanh. Khoảng 400.000 người đạt danh hiệu người cao tuổi làm kinh tế giỏi, tạo việc làm cho khoảng 10 triệu lao động và nộp ngân sách gần 12.000 tỷ đồng.

Đóng góp kinh tế của những bậc “cây cao, bóng cả” không chỉ là khả năng chi trả của “phân khúc” khách hàng ngày càng đông mà còn nằm ở chính nguồn lực mà nhóm dân số này đang sở hữu: Kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp, quan hệ xã hội, vốn sống và khả năng tiếp tục tạo ra giá trị. Đây chính là cơ sở để Việt Nam biến thách thức già hóa dân số thành nguồn lực phát triển mới trong giai đoạn tới. Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan nhìn nhận: NCT không chỉ là “người của quá khứ” mà còn là “người của tương lai”. Tuổi già, nếu được trao cơ hội, có thể trở thành mùa thu vàng rực rỡ bởi đây là nguồn lực xã hội khổng lồ, một thế hệ “vàng” về kinh nghiệm sản xuất, quản trị, tri thức nghề nghiệp. Đấy chính là cơ sở để hình thành và phát triển kinh tế bạc.
Tại hội thảo khoa học “Kinh tế bạc” ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới diễn ra tháng 11-2025, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh: NCT ở Việt Nam không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh xã hội, mà còn là chủ thể phát triển, là nhân tố quan trọng trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây cũng chính là nền tảng thực tiễn và giá trị nhân văn sâu sắc để Việt Nam phát triển nền “kinh tế bạc” theo hướng toàn diện, bền vững, gắn với mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh, hạnh phúc.


Theo TS Trương Xuân Cừ, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội Người cao tuổi Việt Nam, với trí tuệ, kinh nghiệm và uy tín “giàu có”, NCT không chỉ là tấm gương về đạo đức, lối sống mà còn là nguồn lực quan trọng trong đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp xanh và các hoạt động cộng đồng. Trong kỷ nguyên mới, công cuộc phát triển đất nước bền vững, hiện đại, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc đòi hỏi huy động sức mạnh tổng hợp, trong đó có nguồn lực “kinh tế bạc” do NCT vừa là chủ thể, vừa là đối tượng liên quan.
Từ góc độ đó, vấn đề NCT dịch chuyển từ “chăm sóc” sang “chăm sóc và phát huy”, từ bảo đảm an sinh sang tạo dựng môi trường để NCT tiếp tục sống chủ động, có ích và có khả năng đóng góp hiệu quả.
Nói như nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan: Một xã hội hạnh phúc trong thời đại trăm tuổi là xã hội nơi người già không bị bỏ quên, mà luôn được tôn trọng, được khuyến khích tiếp tục đóng góp. Khi ấy, chúng ta không chỉ có một “xã hội siêu già hóa”, mà có một “xã hội siêu kinh nghiệm”, nơi mỗi người đều có giá trị và cơ hội được cống hiến suốt đời.

Trong bối cảnh đất nước ta đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tri thức, kinh tế xanh và xã hội số, việc nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển “kinh tế bạc” càng có ý nghĩa góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Một trong những điểm đáng chú ý của “kinh tế bạc” là nhu cầu của NCT rất rộng và đa dạng. TS Đinh Hữu Phí, Viện Nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam (Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam) cho rằng, nhu cầu của NCT có sự phân hóa theo độ tuổi và đặc điểm cuộc sống. Trong đó, nhóm 60-70 tuổi có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến giao lưu cộng đồng, thể thao, du lịch, văn hóa, nghệ thuật; trong khi ở tuổi cao hơn, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, quản lý bệnh tật, hỗ trợ đi lại và các dịch vụ thiết yếu ngày càng rõ nét. Sự khác biệt này cho thấy thị trường dành cho NCT cần được thiết kế đa dạng, phù hợp với từng nhóm nhu cầu thay vì tiếp cận như một nhóm tiêu dùng đồng nhất.
Cụ thể hơn nữa, NCT ở đô thị có thể cần các sản phẩm tài chính, ứng dụng công nghệ, du lịch hay hoạt động văn hóa. NCT ở nông thôn có thể quan tâm nhiều hơn tới dịch vụ y tế tại chỗ, công cụ lao động an toàn, giao thông và những sản phẩm hỗ trợ sinh hoạt hằng ngày. Ngay trong cùng một nhóm tuổi, nhu cầu cũng khác nhau theo sức khỏe, thu nhập, sở thích và mức độ độc lập.




Chính vì thế, “kinh tế bạc” đòi hỏi một cách tiếp cận thị trường tinh tế hơn. Tuy nhiên, trong khi cả nước hiện có khoảng 17 triệu người cao tuổi nhưng chỉ khoảng 0,07% được nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung tại các trung tâm dưỡng lão, cho thấy tại Việt Nam dịch vụ này vẫn chưa phát triển. Khoảng cách ấy cho thấy một nghịch lý: nhu cầu đã hình thành khá rõ, nhưng khả năng đáp ứng chưa tương xứng.
TS Đoàn Hữu Bẩy, Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam thẳng thắn nhìn nhận: Ở nước ta, kinh tế bạc đang hình thành và ngày càng cần thiết, song còn một số đặc điểm: Quy mô ngành nghề còn nhỏ, phân tán, manh mún; chưa được nhận thức đầy đủ như một ngành - khối kinh tế; thiếu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển lĩnh vực đặc thù (nhà dưỡng lão, trung tâm chăm sóc - nghỉ dưỡng, cơ sở lão khoa…); tiêu chuẩn kỹ thuật cho hạ tầng “thân thiện NCT” (xây dựng, giao thông, nhà ở…) còn thiếu; già hóa diễn ra trong bối cảnh “chưa giàu đã già”, hệ thống an sinh chưa bao phủ đầy đủ, phần lớn NCT khu vực phi chính thức chưa có tiền hưu trí - trợ cấp.
PGS.TS Trần Kim Chung, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), chỉ ra các nguyên nhân căn bản. Đó là, nước ta vẫn đang trong giai đoạn dân số vàng nên sự quan tâm, nhận thức về phát triển “kinh tế bạc” chưa thống nhất. Tư duy truyền thống về người già sinh sống trong cộng đồng còn duy trì như một vấn đề đương nhiên nên việc cung cấp dịch vụ cho sinh hoạt của người già chưa được coi như một bộ phận của nền kinh tế. “Kinh tế bạc” mới đang trong giai đoạn chờ sự bùng nổ khi dân số Việt Nam chuyển sang giai đoạn dân số già nên việc tập trung nhân tài, vật lực cho “kinh tế bạc” chưa đúng với vị trí cần có. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền chưa tương xứng với vị thế của “kinh tế bạc”. Và cuối cùng, việc chuyển từ dân số vàng sang dân số già, tương ứng với kinh tế của dân số vàng và “kinh tế bạc” cần có thời gian để chuyển hóa.

Nhóm phóng viên