Nâng tầm hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam trên bản đồ thế giới
Trong những năm qua, mặt hàng thủ công mỹ nghệ luôn nằm trong nhóm mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch lớn. Nhưng để vững chân trên thị trường quốc tế, đòi hỏi các làng nghề đổi mới thiết kế, xây dựng thương hiệu qua đó đưa sản phẩm tới thị trường có sức chi tiêu cao
Nhiều thách thức trong quá trình vươn ra thế giới
Hiện cả nước có 5.400 làng nghề, trong đó 2.000 làng nghề truyền thống, hàng năm các làng nghề đã góp phần đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ (TCMN) trở thành một trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực khi đã hiện diện tại 163 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 10% nhu cầu toàn cầu. Thông tin từ Tổng cục thống kê cho thấy, năm 2025 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ đạt 4 tỷ, dự kiến năm 2026 sẽ đạt 4,5-5 tỷ USD. Mặc dù hàng TCMN đứng trong top 10 kim ngạch xuất khẩu nhưng nhìn vào tiềm năng và quy mô của TCMN vẫn còn quá thấp so với một số nước.
Lý giải nguyên nhân khiến kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN của Việt Nam còn thấp so với các nước như Trung Quốc và Ấn Độ, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam Trịnh Quốc Đạt cho rằng: Một trong những hạn chế lớn nhất là việc đầu tư cho thiết kế, sáng tạo mẫu mã sản phẩm chưa được các làng nghề quan tâm đúng mức. Tình trạng sao chép mẫu mã giữa các cơ sở sản xuất còn phổ biến, dẫn đến khoảng 90% sản phẩm TCMN của Việt Nam được sản xuất theo thiết kế và mang nhãn hiệu của đối tác nước ngoài. Điều này không chỉ làm giảm giá trị gia tăng mà còn hạn chế khả năng xây dựng thương hiệu, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị phần xuất khẩu. Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại các làng nghề chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của xây dựng và phát triển thương hiệu, vẫn dựa vào danh tiếng truyền thống thay vì chủ động quảng bá, định vị sản phẩm trên thị trường. Đây là những rào cản khiến hàng TCMN Việt Nam chưa phát huy tương xứng tiềm năng, lợi thế trên thị trường quốc tế.

Phản ánh khó khăn trong quá trình sản xuất hàng TCMN phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu, Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và Làng nghề Hà Nội Hà Thị Vinh chia sẻ: Hiện hầu hết các làng nghề đang đối mặt việc thiếu hụt nguyên liệu sản xuất. “Bình quân một năm các làng nghề mây tre đan Hà Nội tiêu thụ khoảng 6.700 tấn nguyên liệu, làng nghề gốm sứ tiêu thụ khoảng 591.000 tấn đất sét, cao lanh, làng nghề gỗ khoảng 1 triệu mét khối. Mặc dù nhu cầu nguyên liệu đứng ở mức cao nhưng chuỗi cung ứng nguyên liệu phụ thuộc trung gian, chưa có hệ thống mua bán trực tiếp giữa nơi khai thác và nơi sản xuất. Đặc biệt, giá nguyên liệu biến động mạnh, thiếu hợp đồng ổn định dài hạn. Chi phí vận chuyển cao, do chưa có chuỗi logistics chuyên biệt, một số nguyên liệu phục vụ ngành gốm sứ hiện phải nhập khẩu với giá cao, làm tăng giá thành sản phẩm, khó cạnh tranh.
Để hàng thủ công mỹ nghệ vươn cao trên trường quốc tế
Theo các chuyên gia kinh tế, để hàng TCMN tăng kim ngạch xuất khẩu đòi hỏi cơ quan quản lý hỗ trợ doanh nghiệp làng nghề tiếp cận vùng nguyên liệu bền vững còn song hành với làng nghề trong việc cải tiến mẫu mã, xây dựng thương hiệu riêng gắn với đẩy mạnh quảng bá thương hiệubởi đây là vấn đề mang tính quyết định đến sự sản xuất, tiêu thụ
Hiến kế để các làng nghề thủ công mỹ nghề xây dựng thương hiệu, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam TS Đỗ Như Chinh bày tỏ mong muốn các cơ quan quản lý hỗ trợ làng nghề TCMN xây dựng thương hiệu theo hướng có cơ chế ưu tiên hỗ trợ việc quảng bá sản phẩm TCMN Việt Nam là hàng chất lượng cao.
“Thời gian qua, thành phố Hà Nội đã hỗ trợ 84 làng nghề đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, với hơn 200 sản phẩm được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận, tạo nền tảng mở rộng thị trường và gắn sản xuất với du lịch. Đây là giải pháp mà các địa phương nên học tập trong quá trình hỗ trợ các làng nghề xây dựng thương hiệu sản xuất hàng TCMN phục vụ xuất khẩu”, ông Chinh nêu ví dụ.

Nhằm giúp các làng nghề cơ sở sản xuất hàng TCMN cải tiến mẫu mã Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội Mạc Quốc Anh đề xuất: Muốn sản phẩm TCMN phát triển mạnh mẽ hơn nữa cần có sự "bắt tay" của nhà thiết kế và nhà sản xuất nhưng để làm được điều này cần sự kết nối của cơ quan quản lý.
“Cần sự kết nối giữa đơn vị sản xuất với nhà thiết kế tạo thành một chuỗi sản xuất là bởi với nhà thiết kế, cần có sự thực tế của nhà sản xuất để mẫu mã sản phẩm, mẫu mã bao bì vẫn mang được bản sắc dân tộc, lại dễ tổ chức sản xuất, đáp ứng được yêu cầu về số lượng lớn", ông Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.
Để hàng TCMN đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì việc đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu sản xuất là điều cần thiết, để giải “bài toán nguyên liệu”, Phó Chủ tịch Hiệp hội xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam Lê Bá Ngọc đề xuất: Các tỉnh thành cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất hàng TCMN nên tăng cường liên kết chặt chẽ với các làng nghề theo hướng khuyến khích hợp đồng cung ứng dài hạn, phát triển logistics và hạ tầng kho bãi. Tuy nhiên, để làm được việc này.
“Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính - tín dụng: Hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho các cơ sở sản xuất mở rộng kho nguyên liệu; ưu đãi về thuế, đất đai, vận tải cho doanh nghiệp cung ứng nguyên liệu nội địa”, ông Ngọc kiến nghị.
Nhằm hỗ trợ làng nghề, doanh nghiệp tăng kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN, tại Hội chợ quốc tế Quà tặng hàng thủ công mỹ nghệ Hà Nội năm 2026 Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu cũng yêu cầu cơ quản quản lý khuyến khích doanh nghiệp, nghệ nhân đổi mới mẫu mã, ứng dụng thiết kế hiện đại trên nền tảng di sản truyền thống, đồng thời chuẩn bị các tiêu chuẩn xanh, phát triển bền vững đáp ứng xu hướng tiêu dùng quốc tế. Bên cạnh đó, ngành công thương hỗ trợ doanh nghiệp, làng nghề mở rộng kết nối chuỗi cung ứng toàn cầu, đưa các sản phẩm TCMN tiếp các thị trường cao cấp như: Bắc Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản...
Cùng với sự hỗ trợ của cơ quan chức năng, vẫn cần chính các làng nghề sản xuất hàng TCMN tăng cường chuyển đổi số và Thương mại điện tử để đưa sản phẩm TCMN giao thương 365 ngày/năm với đối tác quốc tế.
Lê Nam