hanoimoi.vn

Nông nghiệp

Hà Nội phát triển chuỗi giá trị từ rừng đến sản phẩm gỗ

Đức Duy

Thành phố Hà Nội có rừng, có ngành chế biến gỗ phát triển, nhưng nguồn nguyên liệu tại chỗ mới đáp ứng khoảng 7% nhu cầu. Khoảng cách lớn giữa nguồn nguyên liệu và sản xuất đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách phát triển lâm nghiệp của thành phố.

Không chỉ tăng diện tích, mà phải nâng chất lượng rừng, kéo dài chu kỳ kinh doanh, hình thành vùng nguyên liệu gỗ lớn và liên kết các tỉnh lân cận để tạo chuỗi cung ứng hợp pháp, ổn định, bền vững.

trong-rung.png
Ảnh minh họa.

Tăng diện tích và nâng giá trị của rừng

Theo số liệu trong hồ sơ đánh giá chuỗi giá trị rừng trồng, bình quân mỗi năm thành phố Hà Nội cung cấp khoảng 27.900m³ gỗ rừng trồng, trong khi nhu cầu nguyên liệu phục vụ chế biến khoảng 379.000m³/năm.

Nguồn gỗ tại chỗ vì thế chỉ đáp ứng khoảng 7% nhu cầu; phần thiếu hụt phải thu mua từ các địa phương khác hoặc nhập khẩu. Đây là nghịch lý đáng lưu ý: Thành phố Hà Nội có rừng nhưng chưa thể dựa vào rừng để chủ động nguyên liệu cho ngành chế biến của mình.

Nhu cầu nguyên liệu còn tiếp tục tăng. Nếu chỉ dựa vào nguồn cung hiện có, khoảng cách giữa sản xuất và nguyên liệu sẽ ngày càng lớn. Vì vậy, vấn đề không đơn thuần là tăng diện tích rừng, mà phải nâng cao giá trị trên mỗi hecta rừng trồng, tổ chức lại chuỗi từ trồng, chăm sóc, khai thác đến chế biến và tiêu thụ.

Ông Phạm Văn Mậu - Trưởng phòng Pháp chế và Xử lý vi phạm về lâm nghiệp (Chi cục Kiểm lâm Hà Nội) cho biết, trên địa bàn thành phố hiện có khoảng 18.000ha diện tích rừng đủ tiêu chuẩn tính tỷ lệ che phủ, phân bố tại 25 xã, phường; tỷ lệ che phủ rừng đạt 5,34%. Thành phố đang định hướng bảo vệ rừng hiện có, từng bước mở rộng diện tích và triển khai mô hình “Rừng trong thành phố - Thành phố trong rừng”.

Với rừng sản xuất, giá trị không thể chỉ đo bằng số hecta được phủ xanh. Một cánh rừng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được quản lý đúng quy hoạch, chọn giống phù hợp, chăm sóc đúng kỹ thuật, khai thác đúng chu kỳ và đưa sản phẩm vào chuỗi chế biến có giá trị gia tăng cao.

Đặc biệt, cần hạn chế khai thác rừng non, phát triển rừng gỗ lớn và xác định chu kỳ kinh doanh hợp lý. Khai thác sớm có thể giúp thu hồi vốn nhanh nhưng làm giảm chất lượng gỗ, khiến nguyên liệu chủ yếu phục vụ phân khúc giá trị thấp. Ngược lại, rừng gỗ lớn tạo nguồn nguyên liệu chất lượng cao hơn, mở dư địa nâng giá trị sản phẩm.

Cùng với đó phải thay đổi từ khâu giống. Cây giống chất lượng, phù hợp điều kiện đất đai, khí hậu quyết định đáng kể năng suất và chất lượng rừng sau nhiều năm. Từ trồng, chuyển hóa, chăm sóc đến khai thác, các khâu phải được tính trong một chuỗi thống nhất, thay vì triển khai rời rạc.

Nguồn gỗ đưa vào chế biến cũng phải bảo đảm tính hợp pháp và khả năng truy xuất. Khi thị trường ngày càng đặt yêu cầu cao về nguồn gốc, quản lý rừng bền vững không còn là việc riêng của người trồng rừng mà trở thành điều kiện để sản phẩm gỗ bước vào những thị trường có giá trị cao.

Nói cách khác, yêu cầu đặt ra với ngành lâm nghiệp Hà Nội không chỉ là có thêm bao nhiêu diện tích rừng trồng, mà mỗi hecta rừng tạo ra bao nhiêu giá trị và được kết nối với thị trường bằng cách nào.

keo-ba-vi.jpg
Vườn giống keo tai tượng của Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp tại Ba Vì, Hà Nội. Ảnh: Nguyên Huân.

Liên kết vùng, tạo chuỗi nguyên liệu hợp pháp

Theo ông Nguyễn Tiến Lâm – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, nếu chỉ dựa vào quỹ rừng của Hà Nội, khó giải quyết căn cơ bài toán nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Vì vậy, mở rộng liên kết với các địa phương có thế mạnh về rừng trồng cần trở thành một cấu phần quan trọng trong phát triển ngành gỗ của Thủ đô. Trong đó, thành phố xác định hướng liên kết với các địa phương lân cận như: Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hoa, Nghệ An... để hình thành vùng nguyên liệu gỗ và lâm sản ổn định, bền vững phục vụ công nghiệp chế biến của Hà Nội.

Thành phố xác định liên kết thành quan hệ chuỗi: Địa phương có rừng tổ chức vùng nguyên liệu; chủ rừng áp dụng quy trình quản lý bền vững; doanh nghiệp chế biến tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu; tiêu chuẩn về giống, kỹ thuật, thời gian khai thác và nguồn gốc được xác lập rõ; gỗ sau khai thác có khả năng truy xuất và được đưa vào các cơ sở chế biến phù hợp. Khi đó, doanh nghiệp chủ động hơn về nguyên liệu, người trồng rừng có đầu ra ổn định hơn, còn giá trị được phân bổ hợp lý hơn trong chuỗi.

Cùng với vùng nguyên liệu, công nghệ là khâu quyết định khả năng nâng giá trị. Thực tế tại Hà Nội có nhiều cơ sở, làng nghề chế biến gỗ đã đầu tư máy móc, ứng dụng công nghệ lạng, bóc, sản xuất ván lạng, ván bóc; một số làng nghề sử dụng máy đục, máy đánh nhẵn và thiết bị công nghệ cao để tăng năng suất.

Nhưng công nghệ chế biến chỉ phát huy đầy đủ khi nguyên liệu ổn định về chủng loại, kích thước, chất lượng và nguồn gốc. Nếu đầu vào thiếu ổn định, rất khó tổ chức sản xuất quy mô lớn, nâng chất lượng sản phẩm và đáp ứng thị trường giá trị cao.

Cùng với phát triển vùng nguyên liệu, Hà Nội cần thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ chế biến, bảo quản gỗ; tận dụng phụ phẩm, giảm hao hụt và giảm phát thải. Mục tiêu không chỉ là có thêm sản phẩm gỗ, mà là nâng tỷ lệ giá trị tạo ra từ mỗi mét khối nguyên liệu. Khi đó, rừng được quản lý tốt, gỗ khai thác đúng lúc, nguồn gốc được kiểm soát, chế biến bằng công nghệ phù hợp và sản phẩm có thị trường ổn định.

kiem-lam1.jpg
Nhiều cơ sở chế biến lâm sản ở các làng nghề của Hà Nội đã đầu tư máy móc vào sản xuất để nâng cao giá trị sản phẩm gỗ. Ảnh: Đức Duy

Để làm được điều đó, cơ chế phối hợp giữa Hà Nội và các địa phương lân cận cần thực chất hơn. Thành phố có thể đóng vai trò kết nối doanh nghiệp, thị trường và tiêu chuẩn sản phẩm; các địa phương có rừng tập trung phát triển vùng nguyên liệu, nâng chất lượng rừng và kiểm soát nguồn gỗ.

Ngoài ra, các chương trình tập huấn, hội thảo liên vùng về quản lý rừng, chuỗi cung ứng gỗ hợp pháp và chế biến lâm sản cũng cần hướng vào những vấn đề cụ thể của người trồng rừng và doanh nghiệp, tránh hình thức.

Phát triển vùng nguyên liệu cũng phải đi cùng yêu cầu bảo vệ môi trường. Hồ sơ khảo sát cho thấy việc thực hiện các yêu cầu về môi trường, phòng cháy và chữa cháy tại nhiều cơ sở chế biến còn hạn chế. Đây là điểm phải khắc phục nếu muốn xây dựng ngành chế biến gỗ xanh và bền vững.

Hà Nội đang đặt phát triển lâm nghiệp trong định hướng xây dựng không gian xanh và mô hình “Rừng trong thành phố - Thành phố trong rừng”, đồng thời triển khai nhiệm vụ xây dựng Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2026-2030. Trong định hướng đó, rừng trồng sản xuất phải được nhìn nhận như một mắt xích của kinh tế xanh. Muốn vậy, phải khép kín chuỗi giá trị và mở rộng không gian liên kết.

Rừng không thể chỉ được tính bằng diện tích phủ xanh; giá trị của rừng phải được đo bằng chất lượng tài nguyên, sinh kế người dân, nguồn nguyên liệu hợp pháp và giá trị sản phẩm tạo ra. Kết nối được rừng với nhà máy, vùng nguyên liệu với thị trường, thành phố Hà Nội mới biến được lợi thế lâm nghiệp thành chuỗi giá trị thực chất, xanh và bền vững.

Đức Duy