Từ vùng trồng rau đến thị trường: Minh bạch để nâng giá trị
Từ tổ chức lại vùng sản xuất, áp dụng quy trình hữu cơ, VietGAP... đến xây dựng dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc điện tử, Hà Nội đang từng bước hình thành các vùng rau an toàn, tập trung gắn với chế biến, phân phối và tiêu thụ.
Minh bạch thông tin từ nơi sản xuất không chỉ giúp kiểm soát chất lượng mà còn tạo nền tảng nâng giá trị và sức cạnh tranh cho nông sản Thủ đô.

Mở rộng vùng sản xuất tập trung
Thực hiện Kế hoạch số 320/KH-UBND ngày 27-11-2025 về phát triển các vùng sản xuất rau an toàn, tập trung, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ đến năm 2030, Hà Nội đã rà soát hiện trạng sản xuất rau trên địa bàn, làm cơ sở định hướng tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, an toàn, bền vững.
Kết quả rà soát cho thấy, diện tích trồng rau lớn nhất trong năm của Hà Nội khoảng 14.250ha; trong đó, diện tích rau chuyên canh tập trung khoảng 5.519ha, phân bố tại 269 vùng.
Tại nhiều địa phương, các mô hình sản xuất rau, củ, quả an toàn tiếp tục được mở rộng. Các xã, phường Sơn Đồng, Chuyên Mỹ, Hát Môn, Hồng Sơn, Hưng Đạo, Xuân Mai, Yên Nghĩa... đã phát triển vùng sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP với tổng diện tích 107,49ha. Hiệu quả của việc tổ chức sản xuất theo hướng an toàn, ứng dụng công nghệ cao được thể hiện rõ tại một số hợp tác xã.
Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ công nghệ cao Cuối Quý (xã Đan Phượng) Đặng Thị Cuối cho biết, với 5ha trồng đa dạng rau, củ, hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao để kiểm soát quá trình sản xuất từ xuống giống, chăm sóc đến thu hoạch. Sản xuất trong nhà màng, ứng dụng công nghệ giúp chủ động hơn trong phòng ngừa dịch bệnh, hạn chế tác động bất lợi của thời tiết, đồng thời nâng năng suất và chất lượng rau. Nhờ chất lượng sản phẩm và thương hiệu được xây dựng trong nhiều năm, bình quân mỗi ngày, Hợp tác xã thu hoạch 2-4 tấn rau xanh, với giá bán khoảng 20.000 - 30.000 đồng/kg...
Thực tế cho thấy, khi vùng sản xuất được tổ chức bài bản, người dân không chỉ có điều kiện kiểm soát tốt hơn chất lượng đầu vào mà còn thuận lợi trong việc áp dụng quy trình sản xuất thống nhất, đáp ứng yêu cầu các kênh phân phối.
Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Hà Nội Lưu Thị Hằng cho biết, việc mở rộng các vùng sản xuất theo tiêu chuẩn không chỉ góp phần kiểm soát đầu vào mà còn tạo điều kiện để người sản xuất thay đổi phương thức canh tác, giảm sử dụng vật tư không cần thiết, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện đại. Đây cũng là tiền đề để rau an toàn Hà Nội chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa có kiểm soát.
Đưa truy xuất nguồn gốc về vùng trồng
Cùng với phát triển các vùng sản xuất tập trung, Hà Nội từng bước hình thành chuỗi cung ứng từ sản xuất, sơ chế, chế biến đến phân phối; đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu về vùng trồng và thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử theo từng lô hàng.
Trước mắt, Thành phố lựa chọn 2 vùng rau chuyên canh tập trung có diện tích lớn để thí điểm, gồm vùng rau Văn Đức (xã Bát Tràng), diện tích 200ha và vùng rau Tráng Việt (xã Mê Linh), diện tích 397,6ha.
Tại đây, ngành Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông lâm thủy sản, thực phẩm thành phố Hà Nội tại check.hanoi.gov.vn. Hệ thống được định hướng tích hợp với Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từng bước kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý.
Đến nay, dữ liệu của Hợp tác xã sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nông nghiệp Văn Đức (xã Bát Tràng) và Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Đông Cao (xã Mê Linh) đã được khởi tạo trên hệ thống. Các nhóm thông tin được cập nhật gồm: Thông tin hợp tác xã, số hộ sản xuất, giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, VietGAP, đối tác cung cấp và nhập hàng hóa, danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong vùng sản xuất...
Việc đưa dữ liệu đến tận vùng trồng có ý nghĩa quan trọng, bởi truy xuất nguồn gốc chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi thông tin được hình thành ngay từ đầu chuỗi.
Phó Chủ tịch UBND xã Bát Tràng Đỗ Thành Thuận cho biết, xây dựng dữ liệu từ vùng sản xuất giúp cơ quan quản lý có thêm công cụ theo dõi quá trình sản xuất, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, đơn vị phân phối và người tiêu dùng tiếp cận thông tin về nguồn gốc sản phẩm.
“Khi được thực hiện đồng bộ, truy xuất nguồn gốc không chỉ dừng ở việc xác định nơi sản xuất mà còn từng bước minh bạch hóa quá trình hình thành sản phẩm”, ông Đỗ Thành Thuận nhấn mạnh.
Cùng với dữ liệu vùng trồng, việc kiểm soát vật tư nông nghiệp tại các khu vực sản xuất tiếp tục được tăng cường. Tại xã Bát Tràng và Mê Linh, lực lượng chức năng của thành phố đã kiểm tra 15 cửa hàng kinh doanh vật tư nông nghiệp, gồm 12 cửa hàng tại Bát Tràng và 3 cửa hàng tại Mê Linh. Qua kiểm tra, phát hiện 2 cửa hàng vi phạm tại Bát Tràng. UBND xã Bát Tràng đã ban hành 2 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền 9 triệu đồng.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Mạnh Phương, thời gian tới, Sở tiếp tục rà soát, củng cố các vùng rau chuyên canh tập trung; hoàn thiện dữ liệu vùng trồng, hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện truy xuất nguồn gốc điện tử và từng bước mở rộng mô hình tại những vùng sản xuất đủ điều kiện. Cùng với đó, Thành phố tăng cường kiểm tra chất lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; kiểm soát quá trình sản xuất và thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và hệ thống phân phối.
Mục tiêu không chỉ là hình thành những vùng rau có diện tích lớn mà quan trọng hơn là xây dựng chuỗi sản xuất có khả năng kiểm soát từ vùng trồng đến thị trường.
Trong chuỗi đó, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc trở thành công cụ hỗ trợ quản lý chất lượng, giúp doanh nghiệp, người tiêu dùng nhận diện sản phẩm, tạo cơ sở nâng cao giá trị nông sản. Khi thị trường ngày càng coi trọng chất lượng, an toàn và tính minh bạch, việc xác lập “địa chỉ” cho từng vùng trồng, quy trình sản xuất, lô hàng... sẽ tạo thêm lợi thế cạnh tranh cho rau an toàn Hà Nội.
Quỳnh Dung