Giá xăng tăng mạnh dù giá dầu thô biến động trái chiều
6 kỳ điều hành liên tiếp tăng giá đã đưa giá xăng trong nước tăng hơn 5.000 đồng/lít chỉ sau hơn một tháng. Phía sau đà tăng này không chỉ là những bất ổn địa chính trị hay biến động giá dầu thô, mà còn là tình trạng nguồn cung xăng dầu thành phẩm thắt chặt, chi phí vận chuyển gia tăng. Trong bối cảnh dư địa bình ổn giá có giới hạn, chủ động nguồn nguyên liệu, duy trì sản xuất và lựa chọn chính sách hỗ trợ phù hợp trở thành những yếu tố quan trọng để giảm sức ép lên nền kinh tế.
Giá thành phẩm tăng mạnh, nguồn cung chịu sức ép

Từ đầu tháng 9 đến ngày 8-10-2026, giá xăng E5 RON 92 đã tăng tổng cộng 5.220 đồng/lít, lên 27.700 đồng/lít; xăng E10 RON 95-III tăng 4.980 đồng/lít, lên 28.250 đồng/lít. Riêng kỳ điều hành ngày 8-10, hai mặt hàng này tăng hơn 1.000 đồng/lít. Đáng chú ý, dầu diesel lại giảm gần 600 đồng/lít.
Sự trái chiều ấy cho thấy giá dầu thô không phải yếu tố duy nhất quyết định giá bán lẻ xăng dầu. Trong kỳ tính giá từ ngày 1 đến 8-10, giá thành phẩm xăng RON 92 dùng pha chế E5 tăng 4,8%, lên bình quân 147,67 USD/thùng; RON 95 dùng pha chế E10 tăng 4,6%, lên 154,02 USD/thùng. Trong khi đó, giá diesel 0,05S giảm 2,2%. Chính diễn biến khác nhau của từng mặt hàng thành phẩm đã tạo nên mức điều chỉnh trái chiều trong nước.
Theo Bộ Công Thương, thị trường năng lượng thế giới đang chịu tác động đồng thời của những yếu tố bất lợi. Đàm phán giữa Mỹ và Iran đình trệ, xung đột Nga – Ukraine tiếp diễn, căng thẳng tại Trung Đông gia tăng, trong khi một số quốc gia hạn chế xuất khẩu sản phẩm dầu mỏ. Đặc biệt, nguy cơ gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz – tuyến hàng hải đảm nhận khoảng 20% nguồn cung dầu và khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu – khiến thị trường phải tính thêm rủi ro về vận chuyển và bảo hiểm.
Nguồn cung dầu thô có thời điểm cải thiện nhưng chưa đồng nghĩa thị trường xăng dầu thành phẩm được giải tỏa áp lực. Theo TS Nguyễn Tú Anh, Giám đốc nghiên cứu chính sách vĩ mô Trung tâm Green-X, Đại học VinUni, đợt tăng giá lần này chịu tác động đáng kể từ giá nhiên liệu thành phẩm. Nhiều nhà máy lọc dầu trên thế giới bước vào chu kỳ bảo trì, bảo dưỡng, trong khi một số nước hạn chế xuất khẩu xăng dầu thành phẩm, khiến nguồn cung trở nên căng thẳng hơn.
Trong khi dầu thô Brent ở khoảng 99 USD/thùng, giá xăng thành phẩm đã lên khoảng 141-146 USD/thùng, còn diesel ở mức 182-183 USD/thùng. Chênh lệch lớn giữa giá dầu thô và giá thành phẩm phản ánh sức ép riêng của khâu chế biến và cung ứng nhiên liệu. Bởi vậy, dù giá dầu thô có thời điểm giảm, giá xăng dầu bán lẻ vẫn có thể tăng nếu giá thành phẩm trong chu kỳ tính giá đi lên.
Ở góc độ trong nước, khả năng duy trì nguồn nguyên liệu và sản xuất của các nhà máy lọc dầu có ý nghĩa quan trọng. Trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội, ông Lê Nguyễn Quốc Vinh, Giám đốc Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, cho biết trong giai đoạn nguồn dầu thô truyền thống gặp khó khăn, nhà máy đã tăng cường tìm kiếm và sử dụng các nguồn dầu thay thế. Đến nay, Nghi Sơn đã chế biến thành công khoảng 10 loại dầu thô mới, mở rộng lựa chọn nguyên liệu khi thị trường biến động.
Theo ông Lê Nguyễn Quốc Vinh, việc đa dạng hóa nguồn dầu phải được chuẩn bị từ trước, bởi mỗi loại dầu mới đều cần được đánh giá đặc tính, thử nghiệm và kiểm chứng mức độ phù hợp với cấu hình công nghệ. Từ cuối năm 2025, nhà máy đã chủ động mua, thử nghiệm một số loại dầu ngoài nguồn truyền thống. Nhờ đó, khi nguồn cung gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể linh hoạt hơn trong lựa chọn nguyên liệu, thay vì chờ gián đoạn mới bắt đầu tìm nguồn thay thế.
“Trong điều kiện giá thế giới biến động, duy trì được sản xuất ổn định và nguồn hàng liên tục là điều rất quan trọng. Nhà máy không thể quyết định giá dầu thế giới, nhưng có thể chủ động tối đa những yếu tố nằm trong khả năng của mình, từ nguồn nguyên liệu, công suất, cơ cấu sản phẩm đến tồn kho và phối hợp phân phối”, ông Lê Nguyễn Quốc Vinh chia sẻ.
Trong 9 tháng năm 2026, Nghi Sơn đã chế biến khoảng 8,38 triệu tấn dầu thô, cung ứng khoảng 6,54 triệu tấn sản phẩm xăng dầu. Doanh nghiệp dự kiến đưa tổng sản lượng cung ứng cả năm lên hơn 9,2 triệu tấn, đáp ứng khoảng 35-40% nhu cầu trong nước theo tính toán của nhà máy. Những nỗ lực duy trì sản xuất, đa dạng hóa nguyên liệu và phối hợp phân phối góp phần tăng khả năng chủ động nguồn hàng. Tuy nhiên, nguồn cung trong nước ổn định không đồng nghĩa giá bán lẻ có thể tách khỏi diễn biến giá thành phẩm trên thị trường quốc tế.
Bình ổn giá cần đúng trọng tâm, hạn chế sức ép lạm phát

Giá xăng dầu tăng không chỉ làm tăng chi phí đi lại của người dân mà còn tác động đến vận tải, logistics, sản xuất và phân phối hàng hóa. Trong đó, dầu diesel có vai trò đặc biệt đối với hoạt động vận tải đường bộ, đường sắt, đường biển và nhiều loại máy móc sản xuất. Vì vậy, nếu giá diesel tăng kéo dài, sức ép có thể lan rộng qua chi phí vận chuyển và giá thành hàng hóa, dịch vụ.
TS Nguyễn Tú Anh cho rằng, trong bối cảnh dư địa chính sách hạn chế, cần cân nhắc các biện pháp hỗ trợ có mục tiêu thay vì bình ổn đồng loạt. Dầu diesel là mặt hàng cần được quan tâm bởi mức tăng chi phí nhiên liệu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, lưu thông. TS Nguyễn Tú Anh cũng đề xuất tiếp tục xem xét các chính sách giảm thuế đối với xăng dầu và nghiên cứu bổ sung nguồn lực cho Quỹ Bình ổn giá xăng dầu nếu giá diesel tiếp tục tăng cao.
Thực tế, chính sách thuế đã được điều chỉnh nhằm giảm bớt áp lực chi phí. Theo thông tin điều hành của Bộ Công Thương, Nghị quyết số 43/2026/NQ-CP ngày 30-9-2026 kéo dài thời hạn áp dụng các chính sách về thuế nhập khẩu ưu đãi, thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với xăng dầu, nguyên liệu sản xuất xăng dầu và nhiên liệu bay đến hết ngày 31-12-2026. Tuy nhiên, các công cụ hỗ trợ vẫn cần được cân nhắc trên cơ sở tác động thực tế đến giá bán, khả năng cân đối ngân sách và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô. Điều hành giá cần bám sát thị trường, đồng thời hạn chế những đợt tăng giá quá đột ngột. Quỹ Bình ổn giá nên được sử dụng minh bạch, đúng thời điểm để giảm bớt áp lực cho người dân và doanh nghiệp, thay vì cố giữ giá bất chấp biến động cung cầu.
Sức ép này càng đáng lưu ý khi mặt bằng giá cả đã tăng. Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), CPI tháng 9-2026 tăng 0,62% so với tháng trước; bình quân 9 tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm giao thông tăng 6,06%, trong khi nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%. Những con số này cho thấy dư địa để hấp thụ thêm các đợt tăng giá năng lượng mà không gây áp lực lên mục tiêu kiểm soát lạm phát là không lớn. TS Nguyễn Tú Anh cảnh báo lạm phát cuối năm có khả năng vượt mục tiêu 4,5% nếu thiếu giải pháp hỗ trợ phù hợp.
Bà Trần Thị Phương Lan, Chủ tịch Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam cho rằng, đợt tăng giá xăng vừa qua cho thấy thị trường năng lượng có thể biến động nhanh và phức tạp hơn nhiều so với những gì thể hiện qua giá dầu thô. Khi nguồn cung thành phẩm thắt chặt, chi phí vận tải tăng và rủi ro địa chính trị chưa hạ nhiệt, áp lực giá khó có thể được giải quyết chỉ bằng một công cụ đơn lẻ.
Vì vậy, về phía doanh nghiệp, việc chủ động kế hoạch nguồn hàng, quản trị tồn kho và nâng cao khả năng dự báo sẽ giúp hạn chế rủi ro khi giá biến động. Với các nhà máy lọc dầu, đa dạng hóa nguyên liệu và linh hoạt cơ cấu sản phẩm không thể quyết định giá thế giới, nhưng góp phần duy trì hoạt động sản xuất, giảm nguy cơ thiếu hụt nguồn cung. Về phía cơ quan quản lý, theo dõi sát giá thành phẩm từng mặt hàng, tỷ giá, chi phí vận chuyển và khả năng cung ứng trong nước sẽ giúp đánh giá đúng áp lực, lựa chọn công cụ điều hành phù hợp hơn.
Thanh Hiền