Hà Nội tăng “hậu kiểm”, đẩy mạnh tự động hóa trong thực hiện chính sách
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 135/2026/QĐ-UBND ngày 3-10-2026, quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND ngày 15-6-2026 của HĐND thành phố về chính sách thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số.
Quyết định quy định chi tiết và biện pháp tổ chức thi hành các cơ chế, chính sách tại Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND.
Đối tượng áp dụng gồm UBND thành phố, các sở, ban, ngành; UBND các xã, phường; các cơ quan, đơn vị quản lý nguồn lực, vận hành hệ thống hoặc thực hiện nhiệm vụ liên quan đến chính sách; các đối tượng thụ hưởng chính sách và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý, thực hiện, thanh toán, kiểm tra, giám sát, hậu kiểm và đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ.
Theo Quyết định, việc xem xét, đưa sản phẩm, dịch vụ vào danh mục hỗ trợ phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, bình đẳng. Việc lựa chọn căn cứ vào công dụng, tính năng, mức độ phù hợp và khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của nhóm đối tượng thụ hưởng.
Sản phẩm, dịch vụ được lựa chọn phải bảo đảm cạnh tranh về chất lượng, giá, điều kiện cung cấp, chế độ bảo hành, bảo trì và hỗ trợ kỹ thuật phù hợp với tính chất sản phẩm, dịch vụ; không đặt ra yêu cầu nhằm tạo lợi thế bất hợp lý cho một nhà cung cấp, sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể.
Một nguyên tắc đáng chú ý là tăng “hậu kiểm”, giảm “tiền kiểm”, đẩy mạnh tự động hóa trong quá trình thực hiện chính sách. Trong đó, sản phẩm, dịch vụ được xem xét đưa vào danh mục hỗ trợ phải thuộc phạm vi sản phẩm, dịch vụ quy định tại Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND; được cung cấp và sử dụng hợp pháp tại Việt Nam; đáp ứng điều kiện kinh doanh và yêu cầu của pháp luật chuyên ngành, nếu có.
Quyết định cũng yêu cầu xác định rõ đối tượng sử dụng, phạm vi, phương thức, thời gian và điều kiện cung cấp; kết quả đầu ra và phương thức xác nhận, đối soát phù hợp với tính chất của sản phẩm, dịch vụ.
Đối với giá đề nghị đưa vào danh mục hỗ trợ, đây phải là giá được công khai và có căn cứ xác định, đồng thời, là giá sau khi trừ các khoản giảm giá, chiết khấu, khuyến mại hoặc ưu đãi.
Các sản phẩm, dịch vụ cũng phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật về an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu cá nhân, tương ứng với tính năng, phạm vi cung cấp và hoạt động tiếp cận, xử lý dữ liệu, hệ thống thông tin, nếu có.
Bên cạnh đó, sản phẩm, dịch vụ phải có khả năng cập nhật, cung cấp hoặc chia sẻ với Hệ thống các thông tin, dữ liệu, tài liệu điện tử cần thiết phục vụ quản lý và sử dụng phiếu hỗ trợ.
Trong quá trình xét chọn, thành phố xem xét ưu tiên các sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp Việt Nam tự xây dựng, phát triển hoặc làm chủ công nghệ; sử dụng tiêu chuẩn mở, có khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu; sử dụng công nghệ xanh, tiết kiệm năng lượng.
Các sản phẩm, dịch vụ có đóng góp nguồn lực xã hội hóa, giảm giá hoặc cung cấp thêm quyền lợi cho đối tượng thụ hưởng; đã đạt các giải thưởng, chứng nhận uy tín cũng được xem xét ưu tiên.
Quyết định đồng thời làm rõ, việc đưa sản phẩm, dịch vụ vào danh mục hỗ trợ không phải là chứng nhận hoặc bảo đảm của thành phố về chất lượng, hiệu quả, tính pháp lý của sản phẩm, dịch vụ. Nhà cung cấp chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng, hiệu quả, tính pháp lý của sản phẩm, dịch vụ và việc thực hiện các nghĩa vụ đã công bố.
Sở Khoa học và Công nghệ có thể xây dựng cơ chế chấm điểm, xếp hạng để lựa chọn trong trường hợp có nhiều sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp cùng đáp ứng điều kiện đưa vào danh mục hỗ trợ.
Việc lựa chọn phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, công bằng và có khả năng kiểm chứng, gắn với mục tiêu hỗ trợ và hiệu quả sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước.
Đình Hiệp