Không để có độ trễ từ nghị quyết đến hành động
Ngày 27-9, tại cuộc tiếp xúc cử tri Đơn vị bầu cử số 1 trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu không để có độ trễ từ nghị quyết đến hành động, từ quyết sách đến kết quả trong cuộc sống.
Đây là yêu cầu quan trọng trong triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đặt ra vấn đề cốt lõi của quản trị; đó là chủ trương, chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi được tổ chức thực hiện hiệu quả và tạo ra những thay đổi cụ thể, thiết thực trong đời sống nhân dân.

Thước đo là chất lượng cuộc sống của người dân
Năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, đặt ra yêu cầu nhanh chóng chuyển các định hướng lớn thành hành động và kết quả cụ thể. Vì vậy, tinh thần “không để có độ trễ” từ nghị quyết đến hành động, từ quyết sách đến cuộc sống không chỉ đòi hỏi đẩy nhanh tiến độ, mà còn phải nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, trong 8 tháng năm 2026, kinh tế tiếp tục duy trì đà phát triển trong bối cảnh quốc tế nhiều biến động. Sản xuất công nghiệp tăng 11,9%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 13,3%; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt trên 770 tỷ USD; vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt khoảng 40,6 tỷ USD; thu ngân sách nhà nước đạt trên 2 triệu tỷ đồng. Đây là những kết quả đáng ghi nhận, nhưng mới là bước đầu. Thước đo cuối cùng của phát triển phải là chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao ở tất cả khía cạnh.
Điều đó đòi hỏi phải nhìn nhận hiệu quả chính sách từ kết quả thực tế, chứ không chỉ từ việc ban hành văn bản hay hoàn thành quy trình. Những kiến nghị của cử tri tại hội nghị cho thấy, người dân không chỉ quan tâm chính sách được ban hành như thế nào, mà còn muốn biết chính sách được thực hiện ra sao, những vấn đề đã phản ánh được giải quyết đến đâu và mang lại kết quả gì.
Từ đất đai, quy hoạch, bồi thường, tái định cư đến giáo dục, y tế, mỗi vấn đề đều gắn trực tiếp với quyền lợi và đời sống người dân. Công khai, minh bạch trong quản lý đất đai; bảo đảm nơi ở mới bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ; nâng cao chất lượng trường học, chăm sóc sức khỏe và năng lực y tế cơ sở chính là những yêu cầu cụ thể đối với quá trình đưa chính sách vào cuộc sống. Vì vậy, kết quả thực hiện chính sách phải được thể hiện bằng những thay đổi thiết thực: Thủ tục nhanh hơn, dịch vụ công thuận tiện hơn, trường học và bệnh viện tốt hơn, môi trường sống được cải thiện và kiến nghị của người dân được giải quyết đến nơi đến chốn.
Trong bức tranh chung đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá, Hà Nội đang có những chuyển biến mạnh mẽ. Thành phố vừa sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, vừa triển khai các dự án hạ tầng, chỉnh trang đô thị, chuyển đổi số và xử lý những tồn đọng kéo dài. Đáng chú ý, tư duy phát triển của Thủ đô đang chuyển từ giải quyết những vấn đề trước mắt sang kiến tạo không gian và động lực phát triển dài hạn, hướng tới một Hà Nội văn hiến, văn minh, hiện đại, có sức cạnh tranh quốc tế và đóng vai trò động lực phát triển của vùng, cả nước.
Với vị thế và quy mô đặc biệt, Hà Nội cần đi trước trong quản trị đô thị, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển xanh, bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên, đi trước không chỉ là đẩy nhanh tiến độ, mà còn phải bảo đảm chất lượng và tính bền vững của các quyết sách. Những dự án có tác động lớn, lâu dài càng cần được nghiên cứu kỹ lưỡng, công khai thông tin và lắng nghe ý kiến nhân dân.
Đặc biệt, với những không gian giàu giá trị lịch sử, văn hóa như khu vực hồ Hoàn Kiếm, đổi mới phải gắn với bảo tồn. Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, đổi mới không có nghĩa là làm mới tất cả, bảo tồn không có nghĩa là giữ nguyên tất cả; cái mới phải làm giàu thêm cho cái cũ, hiện đại phải tiếp nối truyền thống.
Những tiêu chuẩn của một bộ máy phục vụ tốt
Nếu nghị quyết là định hướng, chính sách là công cụ thì bộ máy công quyền là nơi quyết định các chủ trương ấy có đi vào cuộc sống hay không. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, mà phải tổ chức công việc theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ kết quả.
Từ những vấn đề cử tri Hà Nội đặt ra, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu các kiến nghị phải được phân loại theo đúng thẩm quyền: Việc thuộc xã, phường thì xã, phường giải quyết; việc thuộc thành phố thì thành phố giải quyết; vấn đề thuộc Trung ương thì tổng hợp, kiến nghị Trung ương. Điều cốt lõi là mỗi việc phải có nơi chịu trách nhiệm, tránh tình trạng kiến nghị đi qua nhiều cơ quan nhưng cuối cùng vẫn không rõ ai giải quyết.
Yêu cầu này đặc biệt có ý nghĩa trong vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Phân cấp, phân quyền chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng con người, nguồn lực, dữ liệu và trách nhiệm. Tinh gọn bộ máy cũng không có nghĩa là cào bằng nguồn lực; những địa bàn đông dân, phức tạp, khối lượng công việc lớn cần được bảo đảm điều kiện tương xứng để hoàn thành nhiệm vụ.
Một bộ máy phục vụ tốt trước hết phải là một bộ máy giải quyết được công việc. Người dân không phải đi lại nhiều nơi, thủ tục được rút ngắn, kiến nghị được trả lời rõ ràng, vấn đề thuộc thẩm quyền được xử lý đúng hạn; những nội dung chưa thể giải quyết phải được giải thích minh bạch.
Đó cũng là cách cụ thể hóa yêu cầu “vì dân” trong hoạt động công vụ. “Vì dân” không chỉ thể hiện ở thái độ phục vụ, mà phải được chuyển thành phương thức tổ chức công việc và trách nhiệm giải trình. Cơ quan nhà nước phải xác định được người dân đang gặp vấn đề gì, vấn đề thuộc thẩm quyền nào, cần công cụ gì để xử lý và khi nào có thể trả kết quả.
Trong quản lý đô thị, yêu cầu này càng được thể hiện rõ nét. Một Thủ đô văn minh, hiện đại phải sạch hơn, xanh hơn, an toàn hơn và đáng sống hơn. Ô nhiễm không khí, nước thải, rác thải, vệ sinh đô thị hay an toàn thực phẩm đều là những vấn đề người dân trực tiếp cảm nhận. Tương tự, trong y tế, giáo dục và nhà ở, tốc độ phát triển phải đi cùng năng lực cung cấp các dịch vụ thiết yếu. Một thành phố phát triển nhanh nhưng trường học quá tải, y tế cơ sở chưa đáp ứng, nhà ở chưa phù hợp hoặc môi trường sống xuống cấp thì chất lượng phát triển vẫn còn khoảng cách với yêu cầu thực tế.
Điều đó cho thấy hiệu quả của bộ máy phải được nhìn từ phía người dân. Một cơ quan có thể đã hoàn thành hồ sơ, tổ chức cuộc họp, ban hành văn bản; nhưng nếu vấn đề của người dân vẫn chưa được giải quyết thì công việc chưa thể xem là kết thúc.
Vì vậy, yêu cầu “việc gì đã hứa với dân thì phải làm và làm đến cùng” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, không chỉ là trách nhiệm của từng cán bộ, mà còn là yêu cầu đối với phương thức vận hành của cả hệ thống. Mỗi nhiệm vụ cần có cơ quan chịu trách nhiệm, người chịu trách nhiệm, thời hạn xử lý và cơ chế theo dõi kết quả. Người dân là đối tượng thụ hưởng, nhưng đồng thời còn tham gia giám sát, phản ánh những vấn đề chưa được giải quyết hoặc chưa đúng với thực tế.
Với Thủ đô Hà Nội, những thước đo ấy rất cụ thể. Người dân mong muốn một tuyến đường bớt ùn tắc, một trận mưa ít ngập hơn, một khu phố sạch hơn, một bữa ăn an toàn hơn, một thủ tục được giải quyết nhanh hơn, một lần khám chữa bệnh thuận tiện hơn, một di sản được chăm sóc tốt hơn và một kiến nghị được trả lời rõ ràng hơn. Những thay đổi tưởng như nhỏ ấy lại là phép thử trực tiếp đối với hiệu quả của chính sách và năng lực của bộ máy công quyền.
Hà Nội đang đứng trước những yêu cầu phát triển mới, đòi hỏi sự quyết liệt trong tổ chức thực hiện nhưng cũng phải bảo đảm khoa học, minh bạch, lắng nghe và trách nhiệm. Phát triển nhanh phải đi cùng chất lượng; hiện đại hóa phải gắn với bảo tồn bản sắc; phân cấp phải đi cùng nguồn lực và trách nhiệm; tinh gọn bộ máy phải gắn với nâng cao năng lực phục vụ.
Đó cũng là thước đo cụ thể của hiệu lực quản trị và chất lượng phát triển, đặt ra yêu cầu để Hà Nội tiếp tục xây dựng một đô thị văn minh, hiện đại, có bản sắc và phục vụ người dân ngày càng tốt hơn.
TS Phạm Ngọc Hùng