hanoimoi.vn

Sách

Hãy sống như từng khoảnh khắc...

Đặng Huy Giang

Trương Ngọc Lan là hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, từ 1990 đến nay đã xuất bản 15 tập thơ riêng. Thơ của bà giản dị, đằm thắm, giàu trải nghiệm.

Dường như càng cao tuổi, bà càng ngộ ra một điều gì đấy mang tính phát hiện từ cuộc đời và từ thi ca. "Thực mộng đan cài" là tập thơ thứ 15 của Trương Ngọc Lan vừa được NXB Phụ nữ Việt Nam ấn hành.

sach.jpg

Trong tập thơ có 4 bài thơ, 4 điểm nhấn đồng thời là 4 lát cắt tiêu biểu thơ Trương Ngọc Lan. Chúng thực chứng cho tạng thơ, chất thơ của Trương Ngọc Lan.

Bài "Thời gian còn nhắc" hay ở chỗ lấy tiếng “tích tắc” vô hình làm tiếng gọi của đời người. Tiếng “tích tắc” của chiếc đồng hồ không chỉ là âm thanh của thời gian vật lý mà còn là tiếng gọi của ý thức, nhắc con người về sự hữu hạn của đời sống.

Hai câu thơ “Hãy sống như từng khoảnh khắc/ Là món quà cuối cuộc đời” là điểm sáng của bài thơ: Từ nỗi buồn về sự trôi đi của thời gian chuyển thành lời nhắc sống hết mình, trân trọng hiện tại. Ngắn gọn mà thấm thía, bài thơ nhắc ta rằng điều quý nhất không phải thời gian đã qua, mà là khoảnh khắc đang có trong tay.

Bài "Thèm sống" có một lực đẩy nội tâm rất mạnh, chữ "thèm" ở đây được sử dụng rất đắt như một trạng thái sống rất gần với tinh thần thiền: Không cuống quýt nhưng cũng không buông xuôi.

Trong đó, đặc biệt câu “Có lửa cháy sau lưng” với ẩn ý: Con người không thể quay lại, chỉ có thể bước tới, nhất là đối với người đã già, quỹ thời gian bắt đầu có hạn.

Hai câu kết đầy dư vị: “Bù lại tháng năm tình lấp lửng/ Tiếng cười tay thả bước ung dung”... Bài thơ gợi nhớ một tinh thần gần với câu nói nổi tiếng của một triết gia hiện sinh: Hãy sống mỗi ngày như thể đó là ngày cuối cùng, nhưng không phải để tuyệt vọng, mà để mỗi phút giây đều trở nên có ý nghĩa.

Bài “Thực mộng đan cài” có sức gợi ở chính những điều rất nhỏ. Từ “li ti hoa sấu” đến “li ti chuyện nhỏ”, tác giả đã cho thấy có những kỷ niệm tưởng như vụn vặt nhưng lại đủ sức theo con người suốt một đời. Câu thơ “Em mặc áo xanh/ (Vì anh thích thế)” đặc biệt đắt: Chỉ một chi tiết rất đời đã nói được chiều sâu của tình yêu hơn nhiều lời thề hẹn.

Bài thơ kết bằng câu: “Thực mộng đan cài/ Hàng hàng chữ nhỏ”. Những con chữ chính là nơi cất giữ phần đời không thể quên. Một bài thơ nhẹ như cánh hoa sấu rơi, nhưng dư âm thì bền bỉ, khiến người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của ký ức, của tình yêu và của thời gian trong sự lặng im.

Bài “Vô đề III” tuy ngắn nhưng gợi ra một suy tư khá lớn về thân phận con người và sự biến đổi của thời gian. Điều đáng quý là bài thơ không kể chuyện, không giải thích, mà đặt ra một chuỗi câu hỏi để người đọc tự đi tìm lời đáp: “Người đến sau với người đến trước/ Có khác xa nhau đến ngàn trùng?”.

Sức nặng triết lý của bài thơ nằm ở hai câu sau: “Hình như đời không có mẫu số chung/ Còn tử số không còn nguyên như cũ”. Đây là một liên tưởng rất mới. Nhà thơ mượn ngôn ngữ toán học để nói về cuộc đời. Thông thường, một phân số muốn so sánh được phải quy về mẫu số chung. Nhưng "đời" thì không.

"Không có mẫu số chung" nghĩa là không có một tiêu chuẩn tuyệt đối để đo con người. Không thể lấy chuẩn mực của người xưa áp hoàn toàn cho người nay, cũng không thể dùng một hệ giá trị duy nhất để đánh giá mọi số phận. Mỗi con người, mỗi thời đại đều mang một "mẫu số" riêng của mình.

Đến câu cuối, ý thơ còn bất ngờ hơn: Còn tử số không còn nguyên như cũ. Nếu "mẫu số" tượng trưng cho hoàn cảnh, hệ quy chiếu, thì "tử số" tượng trưng cho chính con người, cho giá trị, khát vọng hay bản thể của mỗi cá nhân. Điều đáng nói là không chỉ hoàn cảnh khác nhau, mà ngay chính con người cũng không còn là mình của ngày trước. "Tử số" đã thay đổi. Con người biến đổi theo thời gian, theo trải nghiệm, theo lịch sử.

Vì vậy, việc đem "người đến sau" đặt lên cùng một thước đo với "người đến trước" là điều gần như bất khả. Ở đây, bài thơ còn gợi một nghịch lý sâu sắc: Không chỉ không có mẫu số chung, mà ngay tử số cũng luôn vận động. Nghĩa là cả hệ quy chiếu lẫn đối tượng được quy chiếu đều không đứng yên. Đó chính là bản chất của đời sống.

Dường như càng có tuổi, thơ của bà càng giản dị và sâu sắc hơn, gần gũi, da diết và đi vào lòng người hơn. Đọc “Vô đề III”, “Hoa păng xê”, “Trò chơi ru bích”, “Trắng đen”, “Sấm đêm” tự dưng tôi nhớ đến “Hôn nhân” - một tứ thơ độc đáo của bà: “Hôn nhân như cái hộp/ Có khi tròn khi vuông/ Loay hoay đi tìm nắp/ Thi thoảng gặp một cặp”.

Đặng Huy Giang