Hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền lợi lao động nền tảng số
Kinh tế số phát triển nhanh, góp phần tạo hàng triệu việc làm mới nhưng cũng làm lộ rõ những khoảng trống pháp lý. Hoàn thiện khung pháp luật là yêu cầu cấp thiết để xác định rõ quyền, trách nhiệm và bảo đảm an sinh cho người lao động.
Khoảng trống trong xác định quan hệ lao động
Sự phát triển của kinh tế số đang làm thay đổi cách thức tổ chức việc làm, tạo thêm cơ hội thu nhập và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường lao động thông qua các ứng dụng công nghệ.
Tại Việt Nam, các nền tảng số trong lĩnh vực vận tải, giao nhận, thương mại điện tử và nhiều loại hình dịch vụ khác đang thu hút lực lượng lao động tham gia với những hình thức làm việc đa dạng, ước tính tạo cơ hội việc làm, thu nhập cho khoảng 2 triệu người.
Khảo sát của Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện trong tháng 3 đến 5-2026 tại Việt Nam với gần 5.000 người trên 4 nền tảng số cho thấy, phần lớn người tham gia làm việc trên một năm, hơn 4 giờ mỗi ngày và hơn 90% người coi công việc trên nền tảng số là nguồn thu nhập chính.

Tính linh hoạt và khả năng tạo thu nhập trực tiếp, phụ giúp gia đình là những lý do chính thu hút người lao động tham gia. Song, họ phải dành 13-25% tổng thu nhập, tương đương 0,5-2 triệu đồng cho chi phí hoạt động. Mức thu nhập ròng bình quân đạt 7,4-9,7 triệu đồng/tháng tùy nền tảng. Tuy nhiên, gần 80% người được hỏi cho biết không tham gia bảo hiểm xã hội.
Những con số trên cho thấy khoảng trống an sinh xã hội đang tồn tại trong một bộ phận lao động nền tảng số, trong khi đây là hình thức việc làm ngày càng phổ biến trong nền kinh tế số.
Luật sư Lê Đình Quảng, nguyên Phó Trưởng ban Chính sách pháp luật, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, chỉ ra những “khoảng trống” hiện nay. Trước hết là thiếu định nghĩa pháp lý rõ ràng về lao động nền tảng số. Khái niệm này rộng hơn nhiều so với nhóm tài xế xe công nghệ nhưng hiện chưa được nhận diện đầy đủ trong hệ thống pháp luật. Bên cạnh vận tải còn có nhiều loại hình cung ứng dịch vụ, giao hàng, việc làm trực tuyến... đang vận hành dựa trên nền tảng số.
Cùng đó, chưa xác lập đầy đủ quyền và trách nhiệm giữa người lao động và doanh nghiệp nền tảng số. Theo ông Quảng, doanh nghiệp có thể thu một tỷ lệ từ doanh thu của người lao động, đồng thời tham gia điều phối hoạt động thông qua nền tảng số. Tuy nhiên, trách nhiệm đối với người lao động về tiền lương, thời giờ làm việc, an toàn lao động và an sinh xã hội vẫn còn những điểm chưa rõ.
Cũng theo ông Quảng, Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định việc xác định bản chất quan hệ lao động không chỉ căn cứ vào tên gọi hợp đồng mà còn xem xét cách thức tổ chức, quản lý công việc. Những yếu tố như quy định đồng phục, kiểm soát đơn hàng, điều phối cước... có thể cho thấy nhiều dấu hiệu của quan hệ lao động.
Anh Nguyễn Văn Hưng, tài xế xe công nghệ tại Hà Nội chia sẻ: “Làm việc qua ứng dụng, khi có vấn đề về đơn hàng, thu nhập, chúng tôi chủ yếu liên hệ với bộ phận hỗ trợ của ứng dụng. Nhưng nếu liên quan đến quyền lợi của người lao động thì không biết phải tìm đến đâu. Nhiều anh em gặp chuyện bức xúc chỉ biết lên các hội nhóm trên mạng xã hội để hỏi nhau. Chúng tôi rất mong có một địa chỉ để khi quyền lợi bị ảnh hưởng, người lao động biết mình có thể phản ánh ở đâu và được hướng dẫn, bảo vệ như thế nào.”
Từ thực tế hiện nay, các chuyên gia trong lĩnh vực lao động - việc làm cho rằng cần xác định rõ quan hệ giữa người làm việc trên nền tảng số và doanh nghiệp cung cấp nền tảng là quan hệ lao động hay quan hệ dân sự, kinh tế, đối tác. Khi xác định là quan hệ lao động, các bên phải thực hiện những trách nhiệm tương ứng theo quy định của pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi...
Sớm hoàn thiện pháp luật, lấp khoảng trống an sinh
Sự phát triển của kinh tế nền tảng đang mở rộng các hình thức việc làm và tạo thêm cơ hội thu nhập. Tuy nhiên, những thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật để nhận diện rõ lao động nền tảng số, xác định quyền và trách nhiệm của các bên, đồng thời có cơ chế an sinh phù hợp với đặc thù của hình thức việc làm này.

Từ việc chỉ ra những khoảng trống pháp lý, Luật sư Lê Đình Quảng đề xuất: Trước hết, cần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động theo hướng xây dựng một chương riêng về “Lao động nền tảng số”. Theo ông, đây là hướng phù hợp hơn so với việc cố gắng áp toàn bộ nhóm lao động này vào quan hệ lao động truyền thống theo Điều 13 Bộ luật Lao động.
Trong đó, chương riêng cần quy định những thiết chế an sinh linh hoạt, phù hợp với phương thức làm việc mới; đồng thời xác lập giới hạn an toàn về thời giờ làm việc, bảo vệ sức khỏe và tính mạng người lao động.
“Luật hóa” một cách rõ ràng sẽ giúp xác định trách nhiệm của các bên, tạo cơ sở để người lao động được tiếp cận các chính sách bảo hiểm và phúc lợi, đồng thời giúp doanh nghiệp nền tảng có hành lang pháp lý minh bạch để hoạt động.
Cùng với hoàn thiện pháp luật, cần thống nhất cơ chế quản lý nhà nước theo hướng liên ngành. Cơ quan quản lý lao động, cơ quan quản lý khoa học - công nghệ và cơ quan công an tăng cường phối hợp, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu để nắm chắc quy mô, đặc điểm và diễn biến của lực lượng lao động nền tảng số. Đây là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách an sinh sát với thực tế.
Song song với đó, cần xem xét lấp khoảng trống về an sinh phù hợp với đặc thù của lao động nền tảng số. Trao đổi về nội dung này, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Trần Đình Liệu cho rằng, sự phát triển của các hình thức việc làm linh hoạt, phi truyền thống tiếp tục đặt ra những yêu cầu mới đối với việc mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội.
Đối với người lao động trên nền tảng số, cũng như các nhóm lao động làm việc theo hình thức khoán việc, theo ngày hoặc bán thời gian có thu nhập ổn định, việc nghiên cứu các cơ chế tham gia bảo hiểm xã hội phù hợp với đặc điểm việc làm, thu nhập và quan hệ lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động, phù hợp với sự phát triển của các hình thức việc làm mới trong nền kinh tế số.