Ngành gỗ Hà Nội: Gỡ nút thắt từ nguyên liệu đến thị trường
Từ những làng nghề nổi tiếng, như: Chàng Sơn, Vạn Điểm, Sơn Đồng, Liên Hà…, ngành chế biến gỗ của Hà Nội tạo việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần giữ nghề và phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, đằng sau sức sống ấy là những điểm nghẽn về nguyên liệu, công nghệ, mặt bằng, thị trường và môi trường. Tháo gỡ những nút thắt này đang là yêu cầu cấp thiết để ngành gỗ phát triển bền vững.

Nguồn nguyên liệu chưa theo kịp năng lực chế biến
Theo kết quả điều tra, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 2.899 cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ, trong đó 258 cơ sở là doanh nghiệp và 2.641 cơ sở là hộ gia đình, cá nhân. Thành phố có 83 làng nghề chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ, tập trung ở các địa bàn như: Thạch Thất, Thường Tín, Phú Xuyên, Sơn Đồng, Thư Lâm, Liên Minh, Hưng Đạo, Quốc Oai…
Quy mô sản xuất phần lớn nằm trong khu vực hộ gia đình. Khảo sát 235 cơ sở cho thấy 90,2% là hộ gia đình, cá nhân. Đây là lực lượng quan trọng giúp nghề mộc duy trì sức sống, song cũng bộc lộ hạn chế về vốn, mặt bằng, công nghệ và năng lực quản trị. Gần 50.000 lao động đang làm việc trong ngành, nhưng phần đông là lao động phổ thông, học nghề chủ yếu thông qua truyền nghề; kỹ năng về thiết kế, kỹ thuật, tiếp thị và thị trường còn hạn chế.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Văn Mậu - Trưởng phòng Pháp chế và Xử lý vi phạm về lâm nghiệp (Chi cục Kiểm lâm Hà Nội), điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của công nghiệp chế biến lâm sản là nguyên liệu. Thành phố Hà Nội có diện tích rừng không lớn. Bình quân mỗi năm, thành phố chỉ cung cấp khoảng 28.000m³ gỗ rừng trồng, trong khi nhu cầu nguyên liệu gỗ của các cơ sở chế biến lên tới khoảng 380.000m³/năm. Sự thiếu hụt này buộc các cơ sở chế biến gỗ phải tìm nguồn nguyên liệu từ các tỉnh, thành phố khác và nhập khẩu.
Theo phương án quản lý của Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, đây là vấn đề cần được nhìn nhận trong mối liên kết giữa rừng trồng - vùng nguyên liệu - chế biến - thị trường. Hà Nội khó có thể đáp ứng nhu cầu nguyên liệu bằng diện tích rừng hiện có, do đó cần tăng năng suất, chất lượng rừng trồng trong thành phố, đồng thời liên kết với các địa phương lân cận để hình thành vùng nguyên liệu ổn định, kiểm soát được nguồn gỗ hợp pháp.

Thống kê của Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cho biết, cơ cấu nguyên liệu của ngành chế biến gỗ đã có sự chuyển dịch. Tỷ lệ gỗ nhập khẩu giảm từ 85,4% năm 2018 xuống còn 17,8% năm 2023; trong khi gỗ trong nước tăng lên 82,2%. Đây là tín hiệu tích cực, nhưng phần lớn “gỗ trong nước” vẫn đến từ ngoài Hà Nội. Điều đó cho thấy bài toán của ngành không chỉ là có đủ gỗ, mà còn phải chủ động được nguồn gỗ hợp pháp, ổn định và có chất lượng. Khi các thị trường ngày càng quan tâm đến nguồn gốc nguyên liệu và trách nhiệm môi trường, việc thiếu thông tin hoặc chưa đáp ứng đầy đủ quy định về gỗ hợp pháp sẽ trở thành rào cản đối với các cơ sở nhỏ.
Chậm chuyển đổi xanh, khó mở rộng thị trường
Những năm gần đây, nhiều cơ sở chế biến gỗ ở thành phố Hà Nội đã chủ động đầu tư máy móc. Tại các làng nghề ở Liên Hà, Liên Trung, công nghệ lạng, bóc gỗ được ứng dụng vào sản xuất; làng nghề Vạn Điểm và một số làng nghề khác, máy đục công nghệ cao, máy đánh nhẵn được đưa vào sản xuất, góp phần nâng năng suất và giảm lao động thủ công. Nhưng ở không ít cơ sở, máy móc vẫn thiếu đồng bộ, nhiều công đoạn còn làm thủ công. Hạn chế về vốn và mặt bằng khiến việc đầu tư dây chuyền chế biến sâu chưa tương xứng. Năng suất thấp, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều, chi phí sản xuất cao kéo theo sức cạnh tranh hạn chế.
Đáng chú ý hơn, thị trường của ngành vẫn chủ yếu là nội địa. Trong 235 cơ sở khảo sát, có tới 90,7% thuộc nhóm sản xuất, chế biến phục vụ thị trường trong nước; số cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu và ván nhân tạo chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Sản phẩm chủ yếu vẫn là đồ nội thất, đồ mỹ nghệ và các sản phẩm gỗ xẻ. Trong khi nhu cầu thị trường thay đổi nhanh, một số dòng đồ gỗ mỹ nghệ truyền thống ngày càng khó tiêu thụ, nhiều cơ sở phải thu hẹp sản xuất, giảm lao động.

Điều đáng nói là nhiều cơ sở chưa chuyển mạnh sang những phân khúc có giá trị gia tăng cao hơn. Năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu, nghiên cứu thị trường và tìm kiếm khách hàng mới còn hạn chế. Với các hộ sản xuất, đây là điểm yếu dễ nhận thấy khi thị trường không còn chỉ cạnh tranh bằng giá và tay nghề.
Phó Chủ tịch UBND xã Hưng Đạo Trần Đức Thắng cho biết, giữ nghề trong bối cảnh mới không thể chỉ là giữ số lượng cơ sở sản xuất. Điều quan trọng hơn là giúp người dân thay đổi cách sản xuất, nâng chất lượng sản phẩm và tìm được thị trường ổn định. Khi sản phẩm không bán được, mọi nỗ lực đầu tư máy móc hay mở rộng nhà xưởng đều khó phát huy hiệu quả.
Cùng với thị trường, môi trường đang trở thành “bài toán khó” tại nhiều làng nghề. Đặc thù sản xuất gỗ là phát sinh bụi, mùn cưa, phoi bào, tiếng ồn; một số công đoạn hoàn thiện sản phẩm sử dụng sơn, hóa chất. Trong khi đó, nhiều cơ sở nằm xen kẽ khu dân cư, mặt bằng chật hẹp nên khó bố trí hệ thống xử lý đồng bộ. Kết quả khảo sát 235 cơ sở cho thấy chỉ 45 cơ sở có kế hoạch bảo vệ môi trường, chiếm 19,1%; 170 cơ sở, tương đương 72,3%, không có kế hoạch...
Những con số này đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách tiếp cận: Bảo vệ môi trường không thể là phần việc làm sau cùng, mà phải trở thành một khâu của quá trình sản xuất.
Nghệ nhân Đỗ Đình Thường – Chủ tịch Hội làng nghề truyền thống đục chạm gỗ cao cấp và mộc dân dụng làng mộc Ngọc Than (xã Quốc Oai) chia sẻ, người dân không muốn nghề mộc bị thu hẹp bởi đây là sinh kế của nhiều gia đình. Điều họ mong muốn là các cơ sở sản xuất có biện pháp che chắn, hút bụi, giảm tiếng ồn, kiểm soát mùi sơn và bảo đảm an toàn phòng cháy, để hoạt động sản xuất không ảnh hưởng đến đời sống xung quanh.

Đây cũng là yêu cầu phù hợp với định hướng chuyển đổi xanh. Tài liệu khảo sát xác định, xử lý ô nhiễm tại các cơ sở chế biến gỗ, nhất là làng nghề, không chỉ nhằm bảo vệ môi trường mà còn góp phần giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Từ thực tế trên, bài toán đặt ra với thành phố Hà Nội không phải mở rộng bằng mọi giá số lượng cơ sở chế biến gỗ, mà là nâng chất lượng của cả ngành.
Trước hết, cần hình thành liên kết vùng nguyên liệu ổn định với các địa phương có thế mạnh về rừng trồng; đồng thời nâng năng suất, chất lượng rừng trồng của Hà Nội. Chi cục Kiểm lâm và các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục hướng dẫn cơ sở thực hiện đầy đủ quy định về nguồn gốc, tính hợp pháp của gỗ.
Với làng nghề, cần đẩy mạnh chuyển đổi từ hộ sản xuất nhỏ lẻ sang doanh nghiệp, hợp tác liên kết; hỗ trợ đổi mới máy móc, công nghệ chế biến sâu và bố trí mặt bằng phù hợp. Công nghệ mới phải đi cùng yêu cầu tiết kiệm nguyên liệu, giảm chất thải và bảo đảm an toàn. Đặc biệt, các cơ sở cần chuyển từ tư duy “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”; chú trọng thiết kế, thương hiệu, sản phẩm nội thất hiện đại và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Hà Nội có lợi thế mà không phải địa phương nào cũng có như: Hệ thống làng nghề dày đặc, nghề truyền thống lâu đời, lực lượng lao động đông và thị trường tiêu thụ lớn. Nhưng lợi thế ấy chỉ trở thành sức mạnh khi những điểm nghẽn về nguyên liệu, công nghệ, thị trường và môi trường được tháo gỡ.
Từ giữ nghề đến nâng tầm nghề, từ sản xuất nhỏ lẻ đến chuỗi giá trị xanh - đó là hướng đi để ngành chế biến gỗ Hà Nội không chỉ tồn tại, mà có thể nâng cao giá trị, tạo sinh kế bền vững và thích ứng với những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.