Kinh tế

Thanh toán QR xuyên biên giới: Từ kết nối hạ tầng đến kết nối kinh tế

Hà Lâm • 25/09/2026 - 18:01

Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang mở ra một phương thức kết nối mới giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp và các nền kinh tế. Khi khách quốc tế có thể sử dụng ứng dụng thanh toán quen thuộc để chi trả tại Việt Nam, còn người Việt có thể thanh toán thuận tiện khi ra nước ngoài, giá trị của QR không chỉ nằm ở một giao dịch nhanh chóng mà còn ở khả năng hỗ trợ dòng chảy du lịch, bán lẻ, thương mại và dịch vụ.

Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng nhấn mạnh tại Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam phối hợp với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Công ty CP Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức chiều 25-9,

Nền tảng thanh toán số mở rộng

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến rõ nét về thanh toán không dùng tiền mặt. Hạ tầng thanh toán ngày càng hiện đại, các phương thức thanh toán số ngày càng phổ biến, trong đó thanh toán qua mã QR đã trở thành một phương thức quen thuộc đối với người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục mở rộng khả năng kết nối thanh toán với các quốc gia, vùng lãnh thổ.

td2.jpg
Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng. Ảnh: Lan Anh

Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng, câu chuyện hôm nay không chỉ là câu chuyện về một công nghệ hay một mã QR. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để những kết nối thanh toán đó tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.

Một khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có thể sử dụng ứng dụng thanh toán quen thuộc của mình để chi trả tại khách sạn, nhà hàng, cửa hàng hay một hộ kinh doanh; trong khi một người Việt Nam khi ra nước ngoài có thể thanh toán thuận tiện bằng ứng dụng ngân hàng, ví điện tử của mình. Đằng sau những trải nghiệm đơn giản đó là sự kết nối giữa các hạ tầng thanh toán, ngân hàng, tổ chức chuyển mạch và các chủ thể của hai nền kinh tế.

Vì vậy, phát triển thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua mã QR cần được nhìn nhận rộng hơn: Từ kết nối hạ tầng thanh toán đến kết nối người dân, doanh nghiệp; từ kết nối hệ thống đến hỗ trợ dòng chảy của du lịch, bán lẻ, thương mại và dịch vụ. Nói cách khác, kết nối hạ tầng là điểm khởi đầu, còn kết nối kinh tế mới là mục tiêu cần hướng tới.

Theo số liệu của NHNN, đến hết năm 2025, gần 89% người dân Việt Nam từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp hơn 28 lần GDP.

Trong giai đoạn 2021-2025, số lượng và giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt bình quân hằng năm tăng tương ứng 58,86% và 24,36%. Nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận tỷ lệ giao dịch qua kênh số đạt trên 95%.

Trong 8 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng khá. Giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị; qua kênh Internet tăng 46,57% về số lượng và 21,77% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 35,33% về số lượng và 2,39% về giá trị.

Đáng chú ý, giao dịch thanh toán qua phương thức QR code đạt 311 triệu giao dịch, với giá trị 274,2 nghìn tỷ đồng, tăng 6,66% về số lượng và 25,85% về giá trị.

Nền tảng sử dụng QR trong nước ngày càng phổ biến tạo điều kiện để các kết nối thanh toán xuyên biên giới mở rộng, đưa phương thức thanh toán vốn đã quen thuộc với người Việt đến gần hơn với khách quốc tế và ngược lại.

QR, “cánh tay nối dài” của bán lẻ và du lịch

Theo ông Nguyễn Đăng Hùng, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), VietQRGlobal đang tăng trưởng mạnh tại các thị trường đã kết nối.

a2.jpg
Theo ông Nguyễn Đăng Hùng, Phó Tổng giám đốc Napas, trong 8 tháng năm 2026, giao dịch của du khách Thái Lan, Lào và Campuchia tại Việt Nam tăng 8 lần về số lượng và 6 lần về giá trị so với cùng kỳ. Ảnh: Lan Anh

Trong 8 tháng năm 2026, giao dịch của du khách Thái Lan, Lào và Campuchia tại Việt Nam tăng 8 lần về số lượng và 6 lần về giá trị so với cùng kỳ 2025. Ở chiều ngược lại, giao dịch của người Việt Nam tại 3 thị trường này tăng lần lượt 5 lần và 4 lần.

NAPAS cũng đã hoàn tất kết nối QR xuyên biên giới hai chiều với Singapore và kết nối chiều khách Hàn Quốc thanh toán tại Việt Nam, đồng thời tiếp tục mở rộng chiều ngược lại. Đến nay, NAPAS đã triển khai kết nối thanh toán QR xuyên biên giới với 6 quốc gia.

Với người dùng, thanh toán QR xuyên biên giới mang lại trải nghiệm nhanh chóng, an toàn, tương tự thanh toán tại nước sở tại; đồng thời giao dịch trực tiếp giữa hai đồng bản tệ giúp giảm chi phí chuyển đổi ngoại tệ và mang lại lợi ích về tỷ giá.

Đối với đơn vị chấp nhận thanh toán, VietQRGlobal giúp nhà hàng, khách sạn, hộ kinh doanh, cửa hàng nhỏ lẻ tiếp cận khách quốc tế thuận tiện hơn mà không cần đầu tư thiết bị chấp nhận thẻ. Theo NAPAS, chi phí chấp nhận thanh toán qua VietQRGlobal dự kiến khoảng 1,5% giá trị giao dịch, thấp hơn mức 2,4-3% của thẻ quốc tế phát hành ngoài Việt Nam, tương đương thấp hơn khoảng 37,5-50%.

Từ góc độ này, thanh toán QR xuyên biên giới không chỉ giúp một du khách hoàn tất giao dịch thuận tiện hơn. Nó còn có thể trở thành một phần của hạ tầng phục vụ du lịch, bán lẻ và thương mại, giúp các cơ sở kinh doanh nhỏ tiếp cận dòng khách quốc tế và giảm bớt một rào cản trong quá trình tiêu dùng.

Các doanh nghiệp và chuyên gia nhấn mạnh, thanh toán QR xuyên biên giới không chỉ là câu chuyện của công nghệ thanh toán, mà còn là một cấu phần của hạ tầng kinh tế số, một công cụ hỗ trợ trực tiếp cho giao thương, du lịch và tiêu dùng.

Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng cho biết, trong giai đoạn tới, mục tiêu không chỉ là mở rộng mạng lưới thanh toán xuyên biên giới, mà quan trọng hơn là gia tăng mức độ sử dụng, bảo đảm an toàn, nâng cao hiệu quả và tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.

Thứ nhất, việc mở rộng kết nối thanh toán xuyên biên giới cần xuất phát từ nhu cầu kinh tế thực, gắn với dòng chảy du lịch, thương mại, đầu tư và nhu cầu thanh toán giữa Việt Nam với từng quốc gia, vùng lãnh thổ.

Thứ hai, cần chuyển trọng tâm từ “kết nối được” sang “sử dụng được và sử dụng hiệu quả”. Thành công không nên chỉ được nhìn qua số lượng thị trường đã kết nối, mà cần được đánh giá bằng mức độ sử dụng thực tế, độ phủ đơn vị chấp nhận thanh toán, chất lượng dịch vụ, chi phí, sự thuận tiện và giá trị mà kết nối đó mang lại cho người dân và doanh nghiệp.

Thứ ba, cần thúc đẩy khả năng tương tác, chuẩn hóa và phối hợp chặt chẽ giữa các bên tham gia. Một trải nghiệm thanh toán đơn giản đối với khách hàng chỉ có thể được tạo ra trên nền tảng một cơ chế vận hành phía sau rõ ràng, an toàn, minh bạch và hiệu quả.

Thứ tư, an toàn và niềm tin phải là điều kiện xuyên suốt. Công nghệ có thể thay đổi rất nhanh, nhưng nguyên tắc bảo vệ người sử dụng, phân định rõ trách nhiệm, kiểm soát rủi ro và duy trì khả năng chống chịu của hệ thống phải luôn được đặt ở vị trí trung tâm.