Xét xử đường dây buôn lậu 904 tỷ đồng, vận chuyển hơn 519 triệu USD sang nước ngoài
Ngày 23-9, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên toà sơ thẩm xét xử 12 bị cáo trong vụ án buôn lậu hàng hóa trị giá hơn 904 tỷ đồng và vận chuyển trái phép hơn 519 triệu USD, tương đương hơn 12.138 tỷ đồng qua biên giới.
Theo cáo trạng, từ năm 2021 đến năm 2023, tại Hà Nội và tỉnh Lạng Sơn, Trần Thế Mạnh (sinh năm 1982, ở xã Hoài Đức, Hà Nội), Trần Thị Nga (sinh năm 1977) cùng các đồng phạm bị cáo buộc thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính.
Theo hồ sơ vụ án, trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2023, Mạnh đứng tên thành lập hoặc nhờ người thân đứng tên 7 công ty. Các pháp nhân này được sử dụng để làm thủ tục nhập khẩu đồ gia dụng, thiết bị điện tử từ Trung Quốc về Việt Nam.

Mạnh và Nga đồng thời thực hiện dịch vụ nhập khẩu, thông quan, vận chuyển hàng hóa cho một số chủ hàng phía Trung Quốc đưa hàng về Việt Nam kinh doanh.
Cáo trạng xác định, từ tháng 5-2021 đến tháng 5-2023, Trần Thị Nga đã làm giả 376 giấy tờ liên quan đến việc đăng ký kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu và kiểm tra thực phẩm nhập khẩu.
Những tài liệu giả này được sử dụng để hợp thức hồ sơ của 250 lô hàng từ Trung Quốc về Việt Nam qua các cửa khẩu Chi Ma và Hữu Nghị, tỉnh Lạng Sơn. Riêng số hàng hóa này có tổng giá trị hơn 4 triệu USD, tương đương hơn 97 tỷ đồng.
Ngoài số hàng trên, cơ quan tố tụng xác định tổng giá trị hàng hóa buôn lậu liên quan đến Trần Thế Mạnh và Trần Thị Nga lên tới hơn 904 tỷ đồng.
Một nội dung đặc biệt nghiêm trọng của vụ án là hành vi vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới.
Cáo trạng xác định, từ tháng 11-2021 đến tháng 5-2023, Trần Thế Mạnh đã chủ mưu, chỉ đạo Trần Thúy Hằng (sinh năm 1979, ở Hà Nội) làm giả 3.270 hợp đồng và phụ lục hợp đồng ngoại thương với các doanh nghiệp ở Trung Quốc.
Các tài liệu này được sử dụng để hoàn thiện hồ sơ chuyển trái phép hơn 519 triệu USD sang Trung Quốc, tương đương hơn 12.138 tỷ đồng.
Để thực hiện, Mạnh sử dụng các hợp đồng nhập khẩu và quay vòng những tờ khai hải quan đã được thông quan nhằm hợp thức hóa hồ sơ chuyển tiền. Khách hàng cung cấp thông tin người thụ hưởng và tiền Việt Nam tương ứng với số ngoại tệ cần chuyển. Sau đó, Mạnh thuê Hằng cùng một số kế toán của các pháp nhân ký các chứng từ chuyển tiền, hợp đồng mua bán ngoại tệ và lệnh chuyển tiền để cung cấp cho ngân hàng.
Mạnh mở 21 tài khoản cá nhân tại 21 ngân hàng thương mại trong nước để nhận tiền của khách hàng. Ngoài ra, bị cáo mở tài khoản thanh toán của 5 công ty tại 29 ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán quốc tế.
Theo cáo buộc, Mạnh còn lập các nhóm Zalo với nhân viên ngân hàng và nhóm kế toán. Hằng ngày, các nhân viên ngân hàng thông báo tỷ giá USD, từ đó Mạnh và Hằng lựa chọn ngân hàng có tỷ giá phù hợp để thực hiện việc mua USD chuyển sang Trung Quốc.
Khi khách hàng yêu cầu chuyển tiền tới nhiều tài khoản thụ hưởng khác nhau, Mạnh chỉ đạo làm giả thêm phụ lục hợp đồng ngoại thương, hợp đồng ba bên nhằm đưa thông tin tài khoản nhận tiền vào hồ sơ thanh toán. Cơ quan tố tụng xác định nhóm này đã thực hiện 3.270 lệnh chuyển tiền, đưa trái phép hơn 519 triệu USD sang Trung Quốc.
Quá trình điều tra, cơ quan chức năng không thu thập được tài liệu, chứng cứ về việc cán bộ ngân hàng trao đổi, thỏa thuận hoặc móc nối với các bị cáo để thực hiện việc chuyển tiền trái phép ra nước ngoài.
Cơ quan điều tra cũng chưa phát hiện hành vi vi phạm hoặc tiêu cực của cán bộ ngân hàng liên quan đến vụ án nên không có căn cứ để xử lý.
Tại phiên tòa ngày 23-9, 12 bị cáo được đưa ra xét xử về các tội danh gồm “Buôn lậu”, “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và “Trốn thuế”.
Phiên toà diễn ra trong nhiều ngày.