Bài 2: “Giải mã” điểm nghẽn của các công trình văn hoá
Hà Nội đang hướng tới phát triển công nghiệp văn hóa thành một lĩnh vực quan trọng của kinh tế Thủ đô. Năm 2026, ngành Văn hóa xác định phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động là những nhiệm vụ trọng tâm.


Hà Nội đang hướng tới phát triển công nghiệp văn hóa thành một lĩnh vực quan trọng của kinh tế Thủ đô. Năm 2026, ngành Văn hóa xác định phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả hoạt động là những nhiệm vụ trọng tâm. Luật Thủ đô năm 2026 cũng đã tạo thêm không gian chính sách cho Hà Nội triển khai các cơ chế phát triển văn hóa. Trong bối cảnh ấy, nhà hát, rạp phim và nhà văn hóa phải được nhìn nhận như hạ tầng của công nghiệp văn hóa, không chỉ là nơi thực hiện nhiệm vụ hành chính hoặc địa điểm để tổ chức sự kiện.

Thực tế cho thấy sức cạnh tranh của các nhà hát, rạp chiếu phim nhà nước đã giảm mạnh trước sự phát triển của những tổ hợp giải trí, điện ảnh, thương mại hiện đại. Từ hơn một thập kỷ trước, nhiều rạp nhỏ tại Hà Nội đã phải đóng cửa, hoặc hoạt động cầm chừng như các rạp: Kim Đồng, Dân Chủ, Tháng Tám. Không ít nhà hát nằm ở vị trí đắc địa, thậm chí là những vị trí “vàng” của Hà Nội, luôn trong tình trạng đóng cửa, tối đèn, loay hoay tìm cách thu hút khán giả.
Giải mã cho sự thiếu hấp dẫn của những thiết chế văn hóa từng gắn với lịch sử của Hà Nội và là thương hiệu của Thủ đô, đạo diễn sân khấu Hoàng Công Cường cho rằng, thị trường giải trí thay đổi rất nhanh, nếu các nhà hát không thay đổi tư duy quản lý thì sẽ khó tồn tại.
.jpg)
Đồng quan điểm, đạo diễn, nghệ sĩ sáng tạo Việt Tú cho rằng, thiết chế văn hóa xuống cấp sẽ khó có thể là nền tảng để nghệ thuật cất cánh và chạm đến được công chúng. Theo anh, điều quan trọng là không gian ấy phải đủ tiện nghi, có sức hấp dẫn và mang trải nghiệm khác biệt, bản sắc riêng để thu hút công chúng.
Theo tiến sĩ Nguyễn Viết Chức, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Văn hóa - Xã hội (Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam), một thiết chế văn hóa muốn sống được phải đồng thời giải quyết ba bài toán: Không gian, sản phẩm và công chúng. Không gian cũ có thể cải tạo. Thiết bị cũ có thể thay thế. Song, nếu cách xây dựng chương trình, cách tiếp cận công chúng và mô hình vận hành vẫn như nhiều thập niên trước thì việc sửa chữa một tòa nhà chưa chắc tạo được sức sống mới.

Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức lý giải, “đất vàng” không tự động biến thành “địa chỉ vàng” về văn hóa. Một nhà hát nằm giữa trung tâm thành phố nhưng mỗi tuần chỉ có vài suất diễn, khán phòng thưa khách, không có hoạt động trải nghiệm, không có dịch vụ bổ trợ, không tạo được cộng đồng khán giả thường xuyên thì vị trí đẹp vẫn chưa đủ. Mô hình nhà hát truyền thống thường vận hành theo kiểu cũ: Có chương trình thì bán vé, hết chương trình thì đóng cửa. Trong khi đó, nhà hát hiện đại trên thế giới ngày càng được tổ chức như một không gian văn hóa đa chức năng. Đó là lý do mà không ít nhà hát truyền thống ở Hà Nội, dù xin kinh phí để cải tạo, nâng cấp hạ tầng, trang thiết bị, vẫn chưa thể thu hút được khách như kỳ vọng.
Với các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng, một trong những nguyên nhân dễ nhận thấy là tư duy đầu tư ở không ít nơi vẫn thiên về xây dựng công trình hơn là kiến tạo đời sống cho công trình. Một nhà văn hóa chỉ nhộn nhịp vào những dịp họp tổ dân phố, kỷ niệm, hội nghị, hay đám cưới, rồi phần lớn thời gian còn lại đóng cửa, thì khó có thể nói công trình đó đã phát huy đầy đủ chức năng.
Thực tế hiện nay vẫn tồn tại tình trạng nơi thiếu quỹ đất, thiếu không gian để xây dựng nhà văn hóa; trong khi ở một số nơi khác, nhà văn hóa đã được đầu tư, xây mới nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Điều đáng nói là ngay từ khâu lập dự án, các địa phương thường có thể tính toán khá cụ thể về diện tích, số phòng, số ghế, trang thiết bị... nhưng lại chưa phải nơi nào cũng đặt ra đầy đủ bài toán “hậu đầu tư”: Ai sẽ vận hành công trình? Công trình sẽ có những hoạt động gì hằng tuần, hằng tháng? Đối tượng nào là người sử dụng chính? Làm thế nào để thu hút người dân đến và quay trở lại? Nguồn lực nào sẽ bảo đảm cho các hoạt động được duy trì lâu dài?
Nói cách khác, một thiết chế văn hóa chỉ thực sự sống khi có cộng đồng sử dụng, có hoạt động diễn ra thường xuyên và có cơ chế vận hành phù hợp. Nếu chỉ hoàn thành phần xây dựng mà chưa tính đến “đời sống” sau khi công trình được bàn giao, nguy cơ lãng phí nguồn lực đầu tư là khó tránh khỏi.


Nhiều năm qua, các nhà hát của Hà Nội không ngừng nỗ lực đổi mới, tìm hướng phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại và thị hiếu công chúng. Khi cơ chế bao cấp dần được thay thế, các nhà hát cũng đứng trước yêu cầu tự chủ, chủ động thích ứng và chuyển mình mạnh mẽ hơn. Đây không chỉ là bài toán về nguồn lực, mà còn đòi hỏi sự đổi mới trong tư duy quản lý, phương thức hoạt động và cách thức tiếp cận khán giả, để nghệ thuật thực sự tạo được sức sống trong đời sống đương đại.
Gần đây, thực hiện chủ trương của thành phố đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội yêu cầu các đơn vị thực hiện những chương trình chất lượng cao với nhiệm vụ phải tạo được nguồn thu kinh tế từ hoạt động nghệ thuật. Tối 24-7 vừa qua, Nhà hát Chèo Hà Nội ra mắt chương trình “Nét duyên Chèo Hà thành” tại rạp Đại Nam, mở đầu chuỗi chương trình nghệ thuật chất lượng cao mang thương hiệu Thủ đô. Kế đó, Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long cũng giới thiệu chương trình “Chuyện Hà Nội - Một ngày rất Hà Nội” với những suất diễn định kỳ tại trụ sở của Nhà hát trên phố Lương Văn Can. Nhà hát Cải lương Hà Nội ra mắt vở diễn “Người con gái Hà thành” tại rạp Chuông Vàng.

NSND Tấn Minh, Giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc Thăng Long cho biết, chương trình được xây dựng phù hợp với không gian biểu diễn nhỏ, có sức chứa 100 người. “Chúng tôi hy vọng, chương trình này có thể mang đến sinh khí mới để công chúng biết đến địa chỉ 31 Lương Văn Can nhiều hơn. Tuy nhiên, với cơ sở vật chất đang xuống cấp như hiện nay, việc thu hút du khách vẫn là thách thức rất lớn”, NSND Tấn Minh chia sẻ.
Cùng với các nhà hát, các rạp chiếu phim do thành phố quản lý cũng đang cố gắng thực hiện các nhiệm vụ tuyên truyền. Rạp Kim Đồng vẫn tổ chức chương trình chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, xã hội. Dù vậy, theo ghi nhận, ngoài hoạt động tuyên truyền, những chương trình, hoạt động chiếu phim mang tính thương mại tại các cụm rạp này chưa như kỳ vọng.
Bức tranh còn rộng hơn khi nhìn xuống hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở với hàng nghìn nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng tuy đã được vận hành nhưng chưa thật sự trở thành điểm hẹn văn hóa, sinh hoạt cộng đồng, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân địa phương. Trong năm 2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đã tiến hành khảo sát nhiều địa phương để nhận diện thực trạng và định hình mô hình vận hành phù hợp. Thành phố cũng xây dựng kế hoạch triển khai giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở.
Theo PGS.TS Phạm Hồng Long, Khoa Du lịch, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), để các công trình văn hóa phát huy hiệu quả, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc đầu tư, xây dựng, mà còn ở khả năng duy trì và tổ chức hoạt động một cách bền vững. Muốn vậy, cần hình thành những “hệ sinh thái”, thay vì khai thác từng công trình riêng lẻ. Một bảo tàng có thể kết nối với các tour du lịch, không gian ẩm thực, cửa hàng sản phẩm sáng tạo, chương trình giáo dục di sản. Một nhà hát có thể kết hợp biểu diễn với tham quan hậu trường, trải nghiệm nghề nghiệp, giao lưu nghệ sĩ. Một trung tâm văn hóa có thể trở thành nơi tổ chức các lớp học, triển lãm, chợ sáng tạo, hội chợ thiết kế và các hoạt động cộng đồng.
Ở góc độ văn hóa, Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức cho rằng, câu chuyện “lãng phí thiết chế” không thể chỉ giải quyết bằng sửa một mái nhà, mua thêm bộ loa, hay xây thêm một phòng chức năng. Điểm nghẽn nằm ở cả cách quản trị. Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức, những nhà hát truyền thống của Hà Nội có thể được cải tạo thành những không gian sáng tạo nghệ thuật mới. Ban ngày, nơi đây có thể là không gian giáo dục nghệ thuật, workshop, triển lãm, tọa đàm; buổi tối là biểu diễn; cuối tuần có chương trình dành cho gia đình, trẻ em; các không gian phụ trợ có thể phục vụ cà phê, sách, giao lưu nghệ sĩ, hoạt động sáng tạo... Như vậy, công chúng không nhất thiết phải mua vé xem một vở diễn mới bước vào nhà hát.
Với thiết chế văn hóa cộng đồng tại các địa phương, Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức gợi mở việc cần làm là kiểm kê toàn bộ hệ thống nhà văn hóa, điểm sinh hoạt cộng đồng. Mỗi thiết chế cần có dữ liệu cụ thể về diện tích, tình trạng công trình, số ngày hoạt động trong năm, lượng người sử dụng, doanh thu, chi phí vận hành, nhóm công chúng, khả năng tiếp cận giao thông và nhu cầu của cộng đồng xung quanh. Từ đó, phân loại rõ: Công trình cần bảo tồn và nâng cấp; công trình cần chuyển đổi mô hình; công trình có thể hợp tác khai thác với doanh nghiệp, tổ chức sáng tạo.
“Hà Nội cần xây dựng những mô hình thiết chế văn hóa cơ sở điển hình tại một số địa phương, sau đó, đánh giá hiệu quả hoạt động rồi nhân rộng những mô hình hay tại chính quyền cơ sở. Cần phát triển những thiết chế văn hóa gắn với không gian sáng tạo dành cho cộng đồng, mở rộng hoạt động văn hóa để người dân được thụ hưởng văn hóa nhiều hơn”, TS Nguyễn Viết Chức nói.
Còn theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, với nhà văn hóa cơ sở, "chìa khóa" lại nằm ở cộng đồng. Không thể yêu cầu hàng nghìn nhà văn hóa vận hành theo một công thức giống nhau, mà các địa phương cần vận hành dựa vào đặc tính sinh hoạt của cụm dân cư. Nơi có đông thanh niên có thể ưu tiên phòng tập nghệ thuật, khiêu vũ, âm nhạc; khu vực đông trẻ em cần thư viện, lớp kỹ năng và không gian sáng tạo; nơi có nhiều người cao tuổi có thể phát triển câu lạc bộ nghệ thuật truyền thống, sức khỏe; làng nghề có thể đưa hoạt động trình diễn nghề, giáo dục di sản và du lịch cộng đồng vào nhà văn hóa...

Có thể thấy, thiết chế văn hóa chính là “hạ tầng mềm” của một đô thị. Một thành phố đáng sống không thể chỉ được đo bằng số lượng tòa nhà cao tầng, hay những tuyến đường hiện đại, mà còn phải được đánh giá qua khả năng cung cấp cho người dân những không gian để học tập, sáng tạo, giao tiếp, thưởng thức nghệ thuật và tìm thấy sự gắn kết cộng đồng. Trong bối cảnh Hà Nội đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, vai trò của hệ thống công trình, thiết chế văn hóa càng trở nên rõ nét. Nếu được tổ chức và vận hành hiệu quả, mỗi công trình không chỉ tạo ra giá trị văn hóa, mà còn có thể tạo ra giá trị kinh tế, góp phần hình thành các chuỗi sản phẩm và dịch vụ văn hóa.
Thực hiện: Hoàng Quyên - Văn Thắng
Thiết kế: Thanh Nga