Festival - hạt nhân của hệ sinh thái văn hóa
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang đặt ra yêu cầu mở rộng hành lang pháp lý, thúc đẩy hoạt động văn hóa từ bảo tồn, giới thiệu đến tạo lập sản phẩm, thị trường và giá trị kinh tế.
Tinh thần này cũng được thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, với yêu cầu kiến tạo thị trường, định vị sản phẩm văn hóa, xây dựng những thương hiệu có sức cạnh tranh. Từ thực tiễn Hà Nội, nhiều festival đang từng bước trở thành những thương hiệu văn hóa của thành phố. Với tư duy quản trị mới, những sản phẩm này được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực cho phát triển công nghiệp văn hóa Thủ đô và đóng góp vào sự phát triển chung của ngành công nghiệp văn hóa cả nước.

Để festival không chỉ là đến hội lại lên...
Những năm gần đây, cùng với Festival Thăng Long - Hà Nội, Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội, Lễ hội Văn hóa ẩm thực Hà Nội, Lễ hội Du lịch Hà Nội và sắp tới là Hanoi Jazztival 2026 lần đầu được tổ chức, bản đồ sự kiện văn hóa của Thủ đô đang ngày càng dày hơn. Mỗi festival khai thác một lớp tài nguyên riêng: Di sản, không gian đô thị, âm nhạc, thiết kế, làng nghề... Phía sau sân khấu là chuỗi hoạt động từ sáng tạo, truyền thông đến du lịch, ẩm thực, công nghệ, quà tặng; đồng thời là nơi nghệ sĩ, nghệ nhân, giám tuyển, doanh nghiệp và công chúng gặp gỡ, tương tác.
Sức hút đó thể hiện rõ qua Festival Thăng Long - Hà Nội. Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hà Nội Lê Thị Ánh Mai cho biết: “Festival lần thứ nhất năm 2025 đã “bước đầu tạo dựng một không gian văn hóa, nghệ thuật có quy mô, kết nối di sản với sáng tạo đương đại”, thu hút gần 200.000 lượt khách tham gia trải nghiệm và gần 1 triệu lượt tiếp cận trên mạng xã hội. Thành công đó là cơ sở để Thành phố tiếp tục xác định Festival Thăng Long - Hà Nội là hoạt động văn hóa thường niên, từng bước xây dựng thành một thương hiệu văn hóa của Thủ đô”.
Năm 2026, tinh thần ấy được nối dài bằng chủ đề “Dòng chảy di sản - Heritage Flow”. Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, các giá trị di sản được khai thác qua nhiều hình thức như áo dài, tranh tượng, trống truyền thống, thư pháp, nghệ thuật trình diễn và công nghệ mapping. Theo Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám Lê Xuân Kiêu, các hoạt động kết nối nghệ sĩ, nghệ nhân và người làm sáng tạo, tạo nên sự tiếp nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhờ đó, di sản được công chúng tiếp cận bằng nhiều ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau.
Những kết quả về lượng khách, mức độ tiếp cận và sự đa dạng của hoạt động cho thấy festival đang dần trở thành một không gian kết nối văn hóa, sáng tạo và thị trường. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là giá trị ấy sẽ được tiếp nối thế nào sau khi sự kiện kết thúc. Cộng đồng mong muốn tác phẩm tiếp tục được trưng bày, khai thác; nghệ nhân có thêm đơn hàng; nghệ sĩ có thêm hợp đồng; doanh nghiệp có lý do để đầu tư cho mùa sau và công chúng có sản phẩm để mua, trải nghiệm.
TS.KTS Nguyễn Thu Hạnh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam cho rằng: “Chúng ta không làm festival chỉ để tổ chức một sự kiện, mà phải tạo ra một giá trị văn hóa có thể tiếp tục phát triển sau khi sự kiện kết thúc. Một festival muốn có sức sống dài cần hội tụ năm yếu tố. Đó là bản sắc bắt nguồn từ vùng đất, lịch sử, văn hóa và con người; dấu ấn đủ riêng để công chúng nhận diện; một cộng đồng công chúng và thị trường; khả năng tạo ra giá trị quanh năm và khả năng tích lũy qua từng mùa”.
Cũng theo bà Nguyễn Thu Hạnh, bản sắc là phần gốc, nhưng thị trường là điều kiện để festival tiếp tục mở ra những hướng đi mới sau khi sự kiện kết thúc. Sau mùa hội, nếu những giá trị được tạo dựng tiếp tục được duy trì qua các tour, không gian văn hóa, hoạt động sáng tạo, ẩm thực, thủ công, nghệ thuật và sinh kế cho cộng đồng, festival mới thực sự trở thành “hạt nhân” của một hệ sinh thái.
Qua gần 10 năm tham gia các dự án nghệ thuật công cộng, Lễ hội Thiết kế Sáng tạo và Photo Hanoi Biennale, giám tuyển Nguyễn Thế Sơn chỉ ra khoảng trống giữa kỳ vọng ấy và thực tế. Theo ông, nhiều festival, Biennale vẫn còn nặng về phần “lễ”, đôi khi mang tính “báo cáo”, trong khi chưa có thiết chế đủ bền vững để nuôi dưỡng chúng như một cấu phần của kinh tế đô thị. Những mô hình như Venice Biennale, triển lãm nghệ thuật đương đại lớn và lâu đời trên thế giới, hay Bảo tàng nghệ thuật hiện đại Guggenheim Bilbao ở Tây Ban Nha cho thấy nghệ thuật có thể trở thành lý do để một thành phố được nhớ tới, đồng thời tạo động lực để nhiều ngành dịch vụ cùng chuyển động quanh một thương hiệu văn hóa.
So sánh ấy không nhằm sao chép mô hình, mà để nhận diện điểm nghẽn của mình. Bài toán không chỉ là tổ chức thêm một mùa hội, mà là xây dựng được “câu chuyện phía sau” của festival sau khi sự kiện kết thúc.
Xây dựng hệ sinh thái nuôi dưỡng sáng tạo

Một festival có thể chỉ diễn ra trong vài ngày, nhưng để những giá trị được tạo ra không “đóng lại” sau sự kiện, cần một hệ sinh thái đủ sức nuôi dưỡng sáng tạo sau mỗi mùa hội. Đây cũng là hướng tiếp cận được đặt ra trong Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chủ trì soạn thảo, với việc xây dựng “Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa”, kết nối các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ sở nghiên cứu - đào tạo, thiết chế văn hóa và cơ quan quản lý.
Giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cho rằng, phía sau một festival cần có quỹ nghệ thuật, không gian trưng bày, sưu tập, lưu trữ và tiêu thụ tác phẩm, chương trình lưu trú sáng tác, cùng cơ chế duy tu nghệ thuật công cộng. Đây là những mắt xích cần thiết để các giá trị sáng tạo tiếp tục được duy trì và phát triển sau sự kiện.
Dự thảo Luật cũng đề cập các hoạt động hỗ trợ phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng sáng tạo, sử dụng bộ công cụ sáng tạo và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa.
Một sản phẩm sáng tạo không thể tự vận hành nếu thiếu những người kết nối chuỗi giá trị. “Nghệ sĩ thì không thiếu, nhưng thiếu nhất là dòng tiền” - ông Nguyễn Thế Sơn nhận định. Theo ông, vai trò giám tuyển - người kết nối nghệ sĩ, tác phẩm, không gian, công chúng và câu chuyện chung của festival - cũng cần được nhìn nhận đầy đủ hơn như một nghề nghiệp chính danh, có cơ chế đặt hàng và thù lao tương xứng.
Khi luật tạo được hành lang cho các chủ thể sáng tạo và dịch vụ văn hóa tham gia thị trường, những mắt xích còn chưa rõ vị trí sẽ có điều kiện được xác lập trong chuỗi giá trị.
Giám tuyển Nguyễn Thế Sơn cũng nhấn mạnh festival cần tạo dựng được “tinh thần nơi chốn”. Mỗi tác phẩm phù hợp với một địa điểm có thể góp thêm một lớp ký ức cho không gian ấy; qua thời gian, những lớp ký ức đó hình thành ký ức cộng đồng. Với Hà Nội, nơi giàu trầm tích văn hóa, đây là một dạng tài sản văn hóa vô hình, góp phần tạo nên bản sắc và dấu ấn riêng cho festival.
Để tài sản ấy có thể chuyển hóa thành giá trị kinh tế - xã hội, nhiều nhà hoạt động sáng tạo cho rằng, bên cạnh bảo hộ quyền tác giả và quyền khai thác tác phẩm, cần có cơ chế về thuế, ưu đãi đầu tư và huy động nguồn lực minh bạch để doanh nghiệp nhìn thấy lợi ích dài hạn. Khi đó, xã hội hóa không chỉ dựa vào thiện chí mà có thể trở thành một dòng vốn thực sự cho văn hóa.
Câu chuyện của làng nghề cũng cho thấy rõ điều này. Nghệ nhân nón lá Tạ Thu Hương, làng Chuông, chia sẻ, festival mở ra cơ hội để sản phẩm truyền thống tiếp cận công chúng và du khách quốc tế. Tuy nhiên, để tiếp tục sống trên thị trường, người làm nghề cần được hỗ trợ về bảo hộ thương hiệu, kết nối thiết kế và kênh phân phối lâu dài.
Rõ ràng, khi hành lang pháp lý giúp kết nối sáng tạo với đào tạo, đầu tư, sản xuất, bản quyền, thị trường và tiêu dùng, một tác phẩm có thể tiếp tục được khai thác; sản phẩm làng nghề có thêm đơn hàng; nghệ sĩ có thêm việc làm; doanh nghiệp có động lực quay trở lại đầu tư. Đó cũng là điểm giao giữa yêu cầu thực tiễn và tinh thần của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, qua đó tạo nền tảng để festival tiếp tục phát huy giá trị, thúc đẩy công nghiệp văn hóa và từng bước xây dựng thương hiệu văn hóa của Thủ đô, phù hợp với định hướng xây dựng Hà Nội là Thành phố Sáng tạo của UNESCO.