Những hành vi nào bị xem là vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng?
Thời gian qua, các hành vi lợi dụng môi trường mạng để phát tán thông tin sai sự thật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân diễn biến phức tạp.
Cần xác định đúng hành vi và căn cứ xử lý
Nghị định 333/2026/NĐ-CP ngày 19-8-2026, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng (Nghị định 333/2026/NĐ-CP) đã làm rõ khái niệm hành vi vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng, đồng thời đặt ra những nguyên tắc chặt chẽ khi áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
Theo khoản 6 Điều 3 Nghị định 333/2026/NĐ-CP, hành vi vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng là hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng phát sinh trong hoạt động bảo đảm an ninh mạng, được thực hiện thông qua không gian mạng, hệ thống thông tin, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử hoặc thiết bị số và thuộc các trường hợp quy định tại Điều 7 hoặc Điều 13 Luật An ninh mạng.
Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi của hành vi vi phạm. Không phải mọi hành vi được thực hiện trên Internet, mạng xã hội hay thiết bị điện tử đều đương nhiên bị coi là vi phạm pháp luật về an ninh mạng.
Luật An ninh mạng năm 2025 quy định nhiều nhóm hành vi bị nghiêm cấm, trong đó có việc sử dụng không gian mạng để phát tán thông tin bịa đặt, vu khống, thông tin sai sự thật, gây hoang mang trong nhân dân hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Cuối tháng 6-2026, Phòng An ninh chính trị nội bộ - Công an thành phố Hà Nội phối hợp Công an phường Thanh Xuân phát hiện một tài khoản Facebook chia sẻ, đăng tải thông tin sai sự thật liên quan công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Nội dung đăng tải gây hoang mang trong nhân dân và ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức.
Đến ngày 31-7-2026, Công an phường Thanh Xuân đã ra quyết định xử phạt công dân N.N.T số tiền 7,5 triệu đồng về hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm cá nhân.
Đáng chú ý, trường hợp này được xử lý theo điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung. Điều đó cho thấy một hành vi trên không gian mạng có thể đồng thời đặt ra vấn đề về an ninh mạng nhưng căn cứ xử phạt cụ thể còn phụ thuộc vào tính chất, nội dung và quy định pháp luật điều chỉnh hành vi đó.
Theo luật sư Nguyễn Trung Tiệp, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, đây là điểm người sử dụng mạng xã hội cần đặc biệt lưu ý. Việc chia sẻ lại một thông tin từ tài khoản khác không đồng nghĩa với việc người chia sẻ được miễn trách nhiệm. Nếu biết hoặc có căn cứ để xác định thông tin không chính xác nhưng vẫn tiếp tục phát tán, hành vi đó có thể dẫn tới trách nhiệm pháp lý, tùy tính chất và mức độ.
Từ trường hợp trên có thể thấy, để xác định một hành vi có vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng hay không, không thể chỉ căn cứ vào việc hành vi được thực hiện trên Facebook, TikTok, website hay một nền tảng trực tuyến khác.
Cần xem xét cụ thể nội dung được đăng tải, cách thức thực hiện, đối tượng bị tác động, hậu quả. Đây cũng là cơ sở để phân biệt hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng với những vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực thông tin, truyền thông, công nghệ thông tin hoặc mạng xã hội.
Luật sư Nguyễn Trung Tiệp cho rằng, việc xác định đúng căn cứ pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Người dân cần được bảo đảm quyền tiếp cận, trao đổi thông tin hợp pháp, nhưng quyền này phải đi cùng trách nhiệm kiểm chứng thông tin và không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Trong bối cảnh mạng xã hội cho phép một nội dung được lan truyền tới hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người chỉ trong thời gian ngắn, một thông tin chưa được kiểm chứng nếu bị chia sẻ rộng rãi có thể gây hậu quả lớn.
Vì vậy, nguyên tắc “đọc kỹ, kiểm chứng trước khi chia sẻ” không chỉ là cách ứng xử văn minh mà còn giúp hạn chế nguy cơ phát sinh trách nhiệm pháp lý.

Biện pháp bảo vệ an ninh mạng phải đúng thẩm quyền
Bên cạnh việc xác định hành vi vi phạm, Nghị định 333/2026/NĐ-CP cũng đặt ra nguyên tắc quan trọng trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh mạng.
Theo Điều 4, các biện pháp bảo vệ an ninh mạng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Việc áp dụng phải đúng mục đích, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục; chỉ được thực hiện sau khi có sự phê duyệt bằng văn bản của người có thẩm quyền.
Đây là nguyên tắc cần thiết nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu bảo vệ an ninh mạng và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Các biện pháp can thiệp vào hoạt động trên không gian mạng không thể được áp dụng tùy tiện mà phải có căn cứ pháp luật và được thực hiện đúng trình tự.
Từ thực tế xử lý các vụ việc xảy ra tại Hà Nội thời gian qua có thể thấy, ranh giới giữa sử dụng không gian mạng hợp pháp và hành vi vi phạm nằm ở nội dung, mục đích, cách thức thực hiện và hậu quả của hành vi. Người sử dụng mạng xã hội cần chủ động kiểm chứng thông tin, không phát tán nội dung sai sự thật, không xâm phạm danh dự, uy tín của người khác và không lợi dụng công nghệ để thực hiện hành vi trái pháp luật.
Luật An ninh mạng năm 2025, Nghị định 333/2026/NĐ-CP không chỉ tăng cường cơ sở pháp lý để phòng ngừa, xử lý các nguy cơ trên không gian mạng mà còn đặt ra yêu cầu về trách nhiệm của cả người sử dụng, tổ chức, doanh nghiệp và cơ quan thực thi pháp luật.