Môi trường

Gỡ điểm nghẽn môi trường Thủ đô:Từ xử lý bị động đến quản trị chủ động

Nhóm phóng viên 15/09/2026 - 06:30

LTS: Môi trường Thủ đô không thể chỉ được đo bằng những con số đẹp về tỷ lệ thu gom, xử lý rác hay số ngày chất lượng không khí ở mức tốt. Thực tế cho thấy, đằng sau những kết quả đáng ghi nhận vẫn còn những “nút thắt” về hạ tầng, quỹ đất, công nghệ, cơ chế, dữ liệu và trách nhiệm thực thi cần được tháo gỡ.

Ấn phẩm Hànộimới hằng ngày của Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội giới thiệu loạt bài “Gỡ điểm nghẽn môi trường Thủ đô: Từ xử lý bị động đến quản trị chủ động”. Không chỉ đặt ra vấn đề từ thực tiễn nêu trên, loạt bài còn chỉ rõ những khoảng trống và kiến nghị hướng đi căn cơ: Quản lý theo dữ liệu, xử lý chất thải theo chuỗi, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kiểm soát ô nhiễm từ nguồn và phân định rõ trách nhiệm. Mục tiêu cuối cùng là ngăn ô nhiễm phát sinh, nâng chất lượng sống và xây dựng một Thủ đô Hà Nội xanh, hiện đại, phát triển bền vững.

rac-ss.jpg
Quang cảnh Nhà máy Điện rác Sóc Sơn (xã Trung Giã). Ảnh: Phạm Hùng

Bài 1: Nhận diện những bất cập

Thời gian qua, chất lượng môi trường ở Thủ đô Hà Nội có những chuyển biến tích cực, song áp lực từ chất thải và các vấn đề môi trường đô thị luôn diễn biến phức tạp. Khối lượng chất thải ngày càng tăng, trong khi hạ tầng tiếp nhận, xử lý, quỹ đất và năng lực công nghệ chưa phát triển đồng bộ. Nhìn thẳng vào những điểm nghẽn đang hiện hữu là bước đầu tiên để Hà Nội chuyển từ xử lý sự vụ sang một nền quản trị môi trường chủ động, phù hợp với tốc độ đô thị hóa.

Áp lực môi trường ngày càng lớn

Hà Nội đang bước vào thời điểm giao mùa, cũng là lúc các vấn đề về môi trường đô thị có nguy cơ diễn biến phức tạp hơn. Tại cuộc họp của UBND thành phố Hà Nội ngày 20-8-2026 về công tác vệ sinh môi trường và ô nhiễm không khí, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng yêu cầu phải “chuẩn bị trước một bước” để ứng phó với ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm không khí và vệ sinh môi trường.

Thực tế cho thấy, môi trường Thủ đô đang chịu sức ép từ nhiều phía và ngày càng đa dạng. Trong thời gian từ ngày 1-1 đến 11-8-2026, số ngày có chất lượng không khí ở mức tốt và trung bình chiếm 73,28%, cao hơn mức 71,18% của 6 tháng đầu năm và tiệm cận mục tiêu 75% của cả năm. Nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình ngày ở mức 40,95 µg/m³, đáp ứng quy chuẩn hiện hành. Đây là kết quả tích cực, song không vì thế mà có thể xem nhẹ những diễn biến thường xuất hiện vào giai đoạn mùa đông và thời điểm giao mùa.

Từ đầu tháng 10 năm nay đến hết tháng 4 năm sau, dự báo điều kiện khí tượng bất lợi, khả năng khuếch tán chất ô nhiễm thấp và hiện tượng tích tụ bụi mịn có thể khiến chất lượng không khí suy giảm nhanh. Điều đó cho thấy chất lượng môi trường không phải một trạng thái cố định, mà luôn chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó có tốc độ phát triển đô thị.

Cùng với áp lực về không khí là sức ép ngày càng lớn từ chất thải. Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện phát sinh khoảng 8.000-8.600 tấn rác thải sinh hoạt mỗi ngày. Dự báo đến năm 2030, lượng rác có thể tăng lên khoảng 13.200 tấn/ngày, trong đó nhu cầu xử lý tập trung đáp ứng được khoảng 11.200 tấn/ngày. Những con số đó cho thấy quy mô bài toán môi trường đang tăng nhanh hơn, cùng với quy mô đô thị.

Nếu chỉ nhìn ở khâu cuối, thành phố Hà Nội đã có bước chuyển đáng kể khi từng bước hình thành các cơ sở xử lý rác bằng công nghệ hiện đại. Nhưng nhìn trên toàn bộ dòng chất thải, từ lúc phát sinh đến khi xử lý, vẫn còn những khoảng trống đáng lưu ý. Nổi bật là chất thải rắn xây dựng, bình quân mỗi ngày, toàn thành phố phát sinh khoảng 3.000-3.400 tấn; cao điểm có thể phát sinh khoảng 10.000 tấn/ngày. Trong số chất thải này, có đến 90% là đất, cát, đá, gạch, bê tông và các vật liệu vô cơ.

Đây là loại chất thải có tiềm năng tái sử dụng, tái chế khá lớn nếu được phân loại, tiếp nhận và xử lý phù hợp. Thế nhưng năng lực xử lý thực tế hiện nay chưa theo kịp lượng chất thải phát sinh. Theo quy hoạch, đến năm 2030 Hà Nội dự kiến có 8 địa điểm xử lý chất thải xây dựng với tổng công suất khoảng 7.640 tấn/ngày. Hiện nay, thành phố mới có 3 cơ sở hoạt động, tổng công suất khoảng 1.320 tấn/ngày. Khoảng cách giữa quy hoạch và năng lực vận hành vì thế vẫn rất lớn.

Tại xã Hưng Đạo, Phó Chủ tịch UBND xã Trần Đức Thắng cho biết, tốc độ đô thị hóa kéo theo nhu cầu xây dựng nhà ở, hạ tầng giao thông và chỉnh trang đô thị cao nên phát sinh lượng lớn đất, phế thải xây dựng. Trong khi các địa điểm tiếp nhận, xử lý tập trung thường ở xa khu vực phát sinh, dẫn đến tình trạng đổ trộm chất thải xây dựng vào ban đêm tại các khu đất trống. Từ thực tế cơ sở có thể thấy, khi hạ tầng chính thức chưa đáp ứng đầy đủ, dòng chất thải luôn tìm một “lối thoát” khác. Đó là một trong những biểu hiện rõ nhất của điểm nghẽn hạ tầng môi trường.

Bùn thải cũng đang trở thành một dòng chất thải đáng lưu ý. Theo Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) Nguyễn Văn Quý, trung bình, trên địa bàn thành phố phát sinh khoảng 1.500 tấn bùn/ngày, cao điểm khoảng 7.000 tấn/ngày. Nguồn phát sinh từ nạo vét hệ thống thoát nước, hồ, công trình ngầm đến các dự án giao thông. Đáng chú ý, riêng tuyến đường sắt đô thị số 5 dự kiến phát sinh khoảng 1,2 triệu mét khối đất đào, bùn thải trong quá trình thi công hầm. Những dự án đường sắt đô thị tiếp theo cũng sẽ tạo ra lượng đất đào, bùn thải không nhỏ...

Bên cạnh đó, 2 khu xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung của Hà Nội còn tồn gần 34 triệu tấn rác đã chôn lấp. Trong đó, Khu Xử lý chất thải rắn Nam Sơn (xã Trung Giã) tồn hơn 30 triệu tấn và Khu Xử lý chất thải rắn Xuân Sơn (phường Tùng Thiện) còn tồn khoảng 3,6 triệu tấn. Lượng rác này tiếp tục đặt ra yêu cầu về duy trì hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, kiểm soát khí phát sinh và bảo đảm an toàn môi trường trong thời gian dài. Mỗi tấn rác chôn lấp không chỉ là một con số về khối lượng, mà còn là diện tích đất phải sử dụng và trách nhiệm môi trường kéo dài nhiều năm. Điểm nghẽn môi trường vì thế không nằm ở một bãi rác, một nhà máy hay một con đường, mà nằm trên cả chuỗi vận hành của đô thị.

gpmb.jpg
Điểm xử lý chất thải rắn xây dựng tại xã Thư Lâm. Ảnh: Quang Thái

Khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế

Thời gian qua, thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường. Gần đây nhất là ngày 9-4-2026, UBND thành phố ban hành Quyết định số 1804/QĐ-UBND về chương trình hành động xử lý ô nhiễm môi trường giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Đồng thời, thành phố cũng đã triển khai xây dựng nhiều dự án xử lý rác, quy hoạch khu vực xử lý chất thải xây dựng, bùn thải; hệ thống quan trắc môi trường từng bước được mở rộng...

Tuy nhiên, từ mục tiêu trong quy hoạch đến một công trình vận hành thực tế vẫn còn khoảng cách cần được lấp đầy. Với chất thải xây dựng, thành phố đã quy hoạch 8 vị trí với tổng công suất đến năm 2030 khoảng 7.640 tấn/ngày, đồng thời nghiên cứu bổ sung vị trí tại xã Vật Lại và xã Trung Giã. Nhưng, hiện mới có 3 cơ sở đang hoạt động với tổng công suất khoảng 1.320 tấn/ngày, trong khi lượng phát sinh bình quân đã lên tới 3.000-3.400 tấn/ngày và có thể tăng nhiều lần vào thời điểm cao điểm. Thế nên bên cạnh đó, thành phố cũng tính toán bố trí 81 vị trí với tổng diện tích khoảng 233ha để tiếp nhận, tập kết và xử lý tạm thời đất đào, chất thải xây dựng và bùn thải trong thời gian chờ các địa điểm xử lý tập trung chính thức hoàn thành.

Các chuyên gia lĩnh vực môi trường cho rằng, vấn đề không chỉ là có địa điểm trên bản đồ, mà là địa điểm ấy có vận hành được hay không, khoảng cách vận chuyển chất thải rắn xây dựng có hợp lý không, có bảo đảm môi trường không và cơ chế đầu tư có đủ hấp dẫn để hình thành điểm tập kết hay không. Một điểm tiếp nhận chất thải rắn xây dựng nằm quá xa nơi phát sinh sẽ làm tăng chi phí vận chuyển; một điểm tập kết chất thải thiếu đường kết nối sẽ khó khai thác; một quy hoạch chậm triển khai sẽ tiếp tục để lại khoảng trống. Trong khoảng trống đó, nguy cơ phát sinh các điểm tập kết chất thải xây dựng tự phát và trái phép luôn hiện hữu.

Với rác sinh hoạt, năng lực xử lý hiện đại đang giúp Hà Nội từng bước giảm phụ thuộc vào việc chôn lấp. Khoảng 83% rác sinh hoạt được xử lý bằng công nghệ đốt phát điện; khoảng 17% vẫn xử lý bằng hình thức chôn lấp. Các dự án như Nhà máy Điện rác Seraphin - Amaccao Thành Công, mở rộng Nhà máy Điện rác Sóc Sơn và Dự án Núi Thoong dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2027 được kỳ vọng tiếp tục tăng cường năng lực xử lý rác cho thành phố. Nhưng ngay cả khi các dự án hoàn thành, sức ép vẫn còn nếu lượng rác tiếp tục tăng. Một hệ thống xử lý cuối cùng dù hiện đại đến đâu cũng phải chạy theo nếu đầu vào không ngừng lớn lên.

Câu chuyện này đặc biệt rõ khi nhìn vào 2 bãi chôn lấp rác thải tập trung của Hà Nội, với gần 34 triệu tấn rác tồn lưu, là lời nhắc rằng một phương thức xử lý có thể giải quyết nhu cầu trước mắt nhưng để lại nghĩa vụ môi trường cho nhiều năm sau. Vì vậy, nhìn vào môi trường ở thành phố Hà Nội lúc này phải nhìn cả 2 chiều: Những gì thành phố đã có và những gì còn thiếu; năng lực xử lý đã hình thành và khoảng trống chưa được lấp đầy.

Một vấn đề khác cũng cần được nhìn nhận là dữ liệu. Thành phố Hà Nội đang xây dựng hệ thống kiểm kê nguồn phát thải, bản đồ phát thải, mô hình lan truyền ô nhiễm; mạng lưới quan trắc gồm 15 trạm tự động của thành phố và 39 trạm, cảm biến phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang từng bước hoàn thiện. Hệ thống dự báo chất lượng không khí HanoiAir cũng được thử nghiệm để dự báo chất lượng không khí và PM2.5 trong 7 ngày.

Tuy nhiên, dữ liệu môi trường hiện nay vẫn nằm ở nhiều nguồn, việc chia sẻ, đồng bộ chưa hoàn toàn thống nhất, nhất là đối với những vấn đề có tính liên vùng, liên tỉnh. Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) Nguyễn Văn Quý cho rằng, cần xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp, đồng thời tăng kiểm soát từ nguồn phát sinh và huy động nguồn lực xã hội cho tái chế chất thải xây dựng, bùn thải. Không thể quản lý hiệu quả nếu dữ liệu bị xé lẻ.

Nhìn thẳng vào những điểm nghẽn không phải để phủ nhận những kết quả Hà Nội đã đạt được. Trái lại, đó là cách để những kết quả ấy được đặt đúng vị trí, không trở thành lý do cho sự bằng lòng sớm. Một đô thị phát triển nhanh không thể chỉ xây thêm năng lực xử lý để chạy theo lượng chất thải tăng lên. Đô thị phải đủ khả năng nhìn thấy áp lực môi trường trước khi nó trở thành vấn đề.

Vì vậy, câu hỏi quan trọng không chỉ là thành phố Hà Nội đang xử lý được bao nhiêu chất thải, mà là dòng chất thải đó đang bắt đầu từ đâu, đi qua những đâu và vì sao vẫn xuất hiện những khoảng trống trong quản lý. Muốn tháo gỡ điểm nghẽn, trước hết phải lần theo dòng chất thải để tìm đúng nơi ô nhiễm bắt đầu.

(Còn nữa)