.png)
Điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng không chỉ nhằm mở thêm không gian phát triển, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc quan hệ giữa Hà Nội với dòng sông, trên nguyên tắc an toàn, sinh thái và vì con người. Sông Hồng phải trở thành trục trung tâm của Hà Nội. Đó là quan điểm của TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo quốc tế (Trường Đại học Thủ đô Hà Nội) khi trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.
.png)
- Theo ông, ở cấu trúc phát triển của Hà Nội trong tương lai, sông Hồng nên được nhìn nhận với vai trò nào?
- Theo tôi, sông Hồng không nên chỉ được nhìn nhận như một ranh giới tự nhiên, hành lang sinh thái hay trục cảnh quan đơn thuần. Ở tầm nhìn dài hạn, dòng sông cần được xác lập là trục cấu trúc trung tâm của Hà Nội tương lai, nơi tích hợp các chức năng sinh thái, cảnh quan, văn hóa, giao thông, kinh tế và tổ chức không gian đô thị.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy nhiều thành phố đã chuyển từ “quay lưng với sông” sang phát triển cùng dòng sông. Seoul phục hồi suối Cheonggyecheon thành hành lang sinh thái và không gian công cộng. Paris thu hẹp không gian dành cho ô tô ven sông Seine để mở rộng khu vực đi bộ và sinh hoạt văn hóa. Singapore làm sạch dòng sông, cải thiện hạ tầng và tái sử dụng các công trình lịch sử, hình thành một không gian thương mại, văn hóa và du lịch sống động.
Những trường hợp trên cho thấy giá trị của sông đô thị không nằm ở các dự án riêng lẻ, mà ở khả năng tổ chức lại cấu trúc phát triển của thành phố.
Với Hà Nội, sông Hồng cần được quy hoạch như một hệ thống không gian liên tục, đa chức năng, kết nối hai bờ, liên kết nội đô lịch sử với các cực phát triển mới, đồng thời hình thành mạng lưới công viên, giao thông công cộng, không gian văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo. Đây cũng là sự trở lại với quy luật phát triển của Thăng Long - Hà Nội.

Tuy nhiên, phát triển ven sông phải tuân thủ yêu cầu thoát lũ, bảo vệ hệ sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm quyền lợi, sinh kế của cư dân. Điều cần thay đổi trước hết là tư duy: Từ coi sông Hồng là ranh giới sang không gian kết nối; từ quay lưng với sông sang sống cùng và phát triển hài hòa với dòng sông.
- Thưa ông, vì sao đây là thời điểm cần điều chỉnh tổng thể Quy hoạch phân khu đô thị sông Hồng?
- Theo tôi, việc điều chỉnh vào thời điểm này xuất phát trước hết từ sự thay đổi căn bản trong tư duy và cấu trúc phát triển của Hà Nội. Đề án được phê duyệt năm 2022 chủ yếu giải quyết mối quan hệ giữa phát triển đô thị với hành lang thoát lũ, đê điều và hiện trạng dân cư ven sông. Những yêu cầu đó vẫn còn nguyên giá trị, nhưng chưa đủ để định hướng một không gian nay đã được xác định là trục phát triển chiến lược của Thủ đô.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, được phê duyệt tại Quyết định số 2512/QĐ-UBND ngày 13-5-2026, xác lập cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, gồm 9 cực phát triển, 9 trung tâm lớn và 9 trục động lực. Quy hoạch lấy con người làm trung tâm; đồng thời nhấn mạnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong cấu trúc đó, sông Hồng được xác định là trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo và là một trong những trục động lực của đô thị.

Bên cạnh đó, hệ thống căn cứ chiến lược và pháp lý cũng đã có nhiều thay đổi, từ Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Điều chỉnh Quy hoạch chung Thủ đô đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065; Nghị quyết số 30-NQ/TW về phát triển vùng đồng bằng sông Hồng; Nghị quyết số 02-NQ/TW năm 2026 về xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới, cùng các cơ chế đặc thù dành cho những dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Hà Nội.
Đặc biệt, việc triển khai Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian ở quy mô lớn. Phạm vi nghiên cứu khoảng 40km, từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở, diện tích khoảng 11.418ha, thuộc địa giới 16 xã, phường.
Quy hoạch phải đồng thời xử lý hướng tuyến giao thông, kết nối hai bờ, công viên và không gian công cộng, chỉnh trang hoặc tái thiết khu dân cư ngoài đê, bảo tồn làng xóm truyền thống, bố trí quỹ đất phát triển đô thị và các công trình văn hóa - dịch vụ có tính biểu tượng. Và vì thế không chỉ là việc xây dựng một tuyến đại lộ mà là quá trình tái cấu trúc không gian đô thị, dân cư, văn hóa, sinh thái, và kinh tế dọc hai bên sông.

Một vấn đề khác là tiềm năng không gian sông Hồng chưa được khai thác tương xứng. Hạ tầng ngoài đê còn thiếu đồng bộ, khả năng tiếp cận mặt nước hạn chế, cảnh quan bị chia cắt và ô nhiễm môi trường vẫn tồn tại ở một số khu vực.
Trong phạm vi nghiên cứu, mặt nước khoảng 3.626ha, tương đương 30%; đất sản xuất nông nghiệp khoảng 5.741ha, gần 50%, nhưng chưa được tổ chức thành một hệ thống liên hoàn về sinh thái, cảnh quan, văn hóa và không gian công cộng.
Trong khi đó, dân số khu vực nghiên cứu hiện khoảng 279.525 người, phương án mới dự báo từ 800.000 đến 1,2 triệu người. Sự gia tăng này kéo theo nhu cầu rất lớn về giao thông, nhà ở, trường học, y tế, cấp thoát nước, xử lý chất thải và không gian công cộng.
Do đó, điều chỉnh lần này phải giải quyết đồng thời bài toán phát triển và sức chịu tải của toàn hệ thống, thay vì chỉ cập nhật ranh giới, chỉ tiêu sử dụng đất hay hướng tuyến giao thông.
- Nếu phải xác định một trọng tâm lớn nhất cho lần điều chỉnh quy hoạch này, theo ông, đó sẽ là vấn đề nào?
- Trọng tâm lớn nhất của lần điều chỉnh quy hoạch phải là tổ chức lại không gian sông Hồng theo nguyên tắc an toàn, sinh thái và vì con người. Dòng sông cần trở thành trục trung tâm của Thủ đô, nhưng không thể đánh đổi khả năng thoát lũ, môi trường, di sản và quyền lợi cộng đồng để lấy tăng trưởng bất động sản. Mọi định hướng phát triển đều phải dựa trên sự tôn trọng các quy luật tự nhiên.
Trước hết, an toàn phòng, chống lũ phải được xác định là giới hạn cứng và điều kiện tiên quyết. Các phương án xây dựng đại lộ cảnh quan, khu đô thị, công viên, công trình biểu tượng hoặc tôn cao bãi sông chỉ được triển khai sau khi kiểm chứng bằng mô hình thủy văn, thủy lực và đánh giá tác động tích lũy trên toàn lưu vực. Sông Hồng trước hết là một hệ thống tự nhiên sống động, không phải quỹ đất dự trữ cho xây dựng.
Không gian ven sông đồng thời phải trở thành một bộ phận hữu cơ của đời sống đô thị. Quy hoạch cần hình thành mạng lưới liên tục gồm công viên, đường dạo, không gian văn hóa, thể thao và sinh hoạt cộng đồng; kết nối thuận tiện với giao thông công cộng, đường đi bộ, xe đạp và đường thủy. Không gian công cộng phải dễ tiếp cận và được sử dụng thường xuyên, thay vì chỉ hiện diện trên bản vẽ.

Người dân cần được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình tái thiết. Một tuyến đại lộ làm hạn chế khả năng tiếp cận dòng sông, hoặc một khu đô thị làm đứt gãy sinh kế, quan hệ xã hội và ký ức cộng đồng, chưa thể coi là thành công. Việc di dời chỉ nên thực hiện khi thật sự cần thiết cho an toàn thoát lũ, hạ tầng thiết yếu và lợi ích công cộng; nơi ở mới phải bảo đảm điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Hai bờ sông Hồng còn lưu giữ nhiều lớp lịch sử qua làng cổ, làng nghề, di tích, không gian tín ngưỡng, bến bãi và sinh kế truyền thống. Những giá trị này phải trở thành thành phần cấu trúc của quy hoạch.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải bãi sông còn xây dựng được bao nhiêu, mà là quy hoạch sẽ bảo đảm an toàn, phục hồi hệ sinh thái và phân phối lợi ích phát triển cho cộng đồng như thế nào.

- Thưa TS, nhìn từ góc độ quy hoạch và phát triển đô thị, đâu là cơ hội lớn nhất mà không gian sông Hồng có thể mang lại cho Hà Nội?
- Cơ hội lớn nhất của không gian sông Hồng không phải là bổ sung một quỹ đất lớn để xây dựng, mà là tạo điều kiện tổ chức lại cấu trúc phát triển của toàn thành phố theo hướng cân bằng, kết nối và bền vững hơn.
Trong thời gian dài, phần lớn các chức năng hành chính, kinh tế, văn hóa và dịch vụ quan trọng tập trung ở phía Nam sông Hồng, trong khi khu vực phía Bắc phát triển chậm hơn và chưa gắn kết chặt chẽ với đô thị trung tâm. Hệ thống đê điều, số lượng cầu còn hạn chế cùng hạ tầng ven sông thiếu đồng bộ khiến dòng sông nhiều khi trở thành đường phân cách giữa hai phần đô thị.
Khi các cây cầu, đường vành đai, đường sắt đô thị, giao thông đường thủy và những cực tăng trưởng mới từng bước hình thành, sông Hồng có thể chuyển từ ranh giới chia cắt thành “bản lề" kết nối. Đây là điều kiện để phân bố lại dân cư, việc làm, dịch vụ công và hoạt động kinh tế; qua đó giảm áp lực cho khu vực nội đô lịch sử, đồng thời thúc đẩy phát triển cân bằng hơn giữa hai bờ.
TS Bùi Văn Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Hà Nội học và Đào tạo quốc tế (Trường Đại học Thủ đô Hà Nội)
Không gian sông Hồng còn có khả năng kết nối nhiều nguồn lực đặc sắc của Hà Nội như: Hồ Tây, nội đô lịch sử, trục hồ Tây - Cổ Loa, cầu Long Biên, Bát Tràng, hệ thống làng cổ, làng nghề, di tích, vùng nông nghiệp ven đô và các khu đô thị mới phía Bắc, phía Đông. Những nguồn lực này hiện còn phân tán, thiếu liên kết về giao thông, không gian và sản phẩm. Quy hoạch ven sông có thể tạo nên một cấu trúc chung, đưa các địa điểm riêng lẻ trở thành mạng lưới có tính bổ trợ.
Trên nền tảng đó, Hà Nội có thể hình thành hành lang văn hóa - sinh thái - sáng tạo quy mô lớn, vừa bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu và thích ứng với lũ, vừa mở rộng không gian dành cho văn hóa, nghệ thuật, du lịch, thể thao và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là cơ sở phát triển những mô hình kinh tế dựa trên di sản, cảnh quan và trải nghiệm, thay vì chủ yếu khai thác địa tô và bất động sản.
Nếu được quy hoạch hợp lý, sông Hồng sẽ trở thành trục liên kết chiến lược, góp phần tái cấu trúc đô thị, cân bằng phát triển và định hình bản sắc Hà Nội trong tương lai.

- Vậy theo ông, Hà Nội cần xác lập những giới hạn nào để vừa khai thác tiềm năng phát triển ven sông, vừa gìn giữ giá trị cảnh quan?
- Vấn đề cốt lõi là xác định rõ ngưỡng phát triển của từng khu vực ven sông. Không phải nơi nào có khả năng tạo ra giá trị kinh tế cũng nên chuyển thành đất xây dựng. Với nhiều bãi sông, vùng mặt nước và không gian nông nghiệp, giá trị quan trọng nhất nằm ở khả năng thoát lũ, điều hòa sinh thái, bảo tồn cảnh quan và phục vụ cộng đồng.
Trước hết, an toàn phòng, chống lũ và bảo vệ đê điều phải được coi là giới hạn bắt buộc. Mọi hoạt động xây dựng, tôn cao bãi sông hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đều phải dựa trên tính toán thủy văn, thủy lực; không làm thu hẹp không gian thoát lũ, cản trở dòng chảy hay ảnh hưởng đến hành lang bảo vệ đê. Tác động cần được đánh giá trên toàn tuyến, kể cả ảnh hưởng tích lũy của nhiều dự án.
Giới hạn tiếp theo là sức chịu tải sinh thái. Bãi thấp, vùng trữ nước, khu vực xói lở và hành lang sinh học phải được nhìn nhận như hạ tầng sinh thái của thành phố, không phải quỹ đất dự trữ để xây dựng. Những khu vực này cần ưu tiên phục hồi hệ sinh thái, phát triển nông nghiệp sinh thái, công viên ngập nước và các hình thức sử dụng đất thích ứng theo mùa.
Quy hoạch cũng phải kiểm soát chặt chẽ kiến trúc và cảnh quan, tránh hình thành dải công trình cao tầng liên tục dọc hai bờ. Mật độ, chiều cao, khoảng lùi công trình và hành lang nhìn cần được quy định cụ thể nhằm duy trì tính mở của cảnh quan và khả năng tiếp cận mặt nước.
Đối với di sản, cần bảo vệ không chỉ từng công trình mà cả cấu trúc làng, không gian sản xuất, sinh hoạt cộng đồng và mối quan hệ giữa cư dân với dòng sông. Đồng thời, những vị trí có giá trị cảnh quan không thể bị khép kín trong các dự án thương mại. Thành phố cần duy trì mạng lưới công viên, đường đi bộ, đường xe đạp và điểm sinh hoạt cộng đồng ven sông.
Những giới hạn trên phải được cụ thể hóa bằng phân vùng kiểm soát, chỉ tiêu xây dựng và cơ chế giám sát. Quy hoạch chỉ bền vững khi xác định rõ nơi nào được xây dựng, xây dựng đến mức nào và nơi nào phải được bảo vệ lâu dài.

- Vậy còn bài toán thoát lũ cần phải tính toán ra sao, thưa ông?
- Theo tôi, an toàn thoát lũ phải là yêu cầu đầu tiên và cũng là giới hạn không thể đánh đổi trong mọi phương án quy hoạch ven sông Hồng. Tuy nhiên, bảo đảm thoát lũ không có nghĩa là giữ nguyên toàn bộ vùng bãi, mà cần tổ chức không gian phù hợp với đặc điểm thủy văn và mức độ rủi ro của từng khu vực.
Những nơi có nguy cơ ngập sâu, dòng chảy mạnh hoặc dễ sạt lở phải ưu tiên cho thoát lũ, trữ nước và phục hồi hệ sinh thái. Vùng có mức độ rủi ro thấp hơn có thể bố trí công viên, không gian công cộng, thể thao, nông nghiệp đô thị hoặc các công trình sử dụng linh hoạt, có khả năng chịu ngập và nhanh chóng phục hồi. Các khu dân cư tập trung, công trình hạ tầng thiết yếu và chức năng đô thị lâu dài phải được đặt tại vị trí bảo đảm an toàn.
Việc phân vùng theo ba mức cao độ trên 11,5m, từ 9,5 đến 11,5m và dưới 9,5m có thể dùng để tham khảo, nhưng chưa đủ. Thành phố cần tính thêm độ sâu và thời gian ngập, vận tốc dòng chảy, nguy cơ xói lở cũng như khả năng tiếp cận, sơ tán khi xảy ra tình huống bất thường.
Đặc biệt, mọi đề xuất xây dựng hoặc tôn cao bãi sông đều phải được mô phỏng, đánh giá trên toàn tuyến, không thể chỉ xem xét trong phạm vi từng dự án. Việc tính toán phải bao gồm tác động cộng dồn của các công trình, chế độ vận hành hồ chứa thượng nguồn và những kịch bản mưa lũ cực đoan do biến đổi khí hậu.
Nói ngắn gọn, phát triển ven sông chỉ có thể được đặt ra sau khi đã bảo đảm an toàn thoát lũ. Điều cần xác định không phải là còn bao nhiêu đất bãi có thể xây dựng, mà là mức độ khai thác nào vẫn giữ được không gian cho nước và không làm tăng rủi ro cho Hà Nội trong tương lai.
- Xin trân trọng cám ơn ông!
Thực hiện: Nguyễn Thủy
Thiết kế: Minh Khiêm