Đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống:Hà Nội đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại.
Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ, gắn với yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế. Ở góc độ địa phương, thành phố Hà Nội cũng xác định rất rõ mục tiêu đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới.

Mở đường cho động lực phát triển mới
Trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội XIV, Đảng ta xác định tập trung triển khai đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại; ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược, trọng tâm là chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; đẩy mạnh đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Mục tiêu đặt ra là tạo động lực then chốt để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Nhằm cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ được xác định tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết khẳng định, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là yếu tố quyết định sự phát triển của các quốc gia; đồng thời là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để Việt Nam phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới.
Theo Nghị quyết, thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần được hoàn thiện và đi trước một bước. Cùng với đó là phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu trở thành tư liệu sản xuất chính.
Nghị quyết yêu cầu khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế, xóa bỏ các tư tưởng, quan niệm, rào cản cản trở phát triển, đưa thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh. Trọng tâm là sửa đổi, hoàn thiện đồng bộ pháp luật về khoa học, công nghệ, đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, ngân sách nhà nước, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế; cải cách phương thức quản lý, cơ chế tài chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ trong sử dụng kinh phí nghiên cứu.
Hà Nội chủ động cụ thể hóa bằng cơ chế, chính sách
Những định hướng đó đặt ra yêu cầu phải cụ thể hóa chủ trương bằng cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện để nguồn lực được huy động, công nghệ được nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng, đồng thời hình thành môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo phát triển.
Đối với thành phố Hà Nội, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng mới. Khi triển khai Luật Thủ đô năm 2026, HĐND thành phố khóa XVII nhiệm kỳ 2026-2031 đã ban hành nhiều nghị quyết tạo cơ chế đặc thù nhằm tháo gỡ các rào cản về thể chế, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Theo Trưởng ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường HĐND thành phố Nguyễn Thị Diễm Hằng, trong giai đoạn vừa qua, HĐND thành phố đã cụ thể hóa nhiều nghị quyết thi hành Luật Thủ đô năm 2026 thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ. Các nghị quyết đã cởi bỏ vướng mắc trong lĩnh vực này với các cơ chế giúp khoa học, công nghệ trở thành động lực chính trong phát triển, tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu thành phố Hà Nội đang đặt ra.
Tại kỳ họp thứ ba, HĐND thành phố thông qua Nghị quyết số 24/2026/NQ-HĐND quy định một số chính sách thúc đẩy nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao công nghệ của thành phố Hà Nội (thực hiện Điểm b, đ, e, Khoản 2, Điều 18 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16); Nghị quyết số 26/2026/NQ-HĐND quy định về thử nghiệm có kiểm soát tại thành phố Hà Nội (thực hiện Khoản 1, Điều 19 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16); Nghị quyết số 27/2026/NQ-HĐND quy định một số nội dung và định mức chi quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội.
Tại kỳ họp thứ tư, HĐND thành phố tiếp tục thông qua Nghị quyết số 58/2026/NQ-HĐND ngày 15-6-2026 quy định chính sách phát triển khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn thành phố Hà Nội (thực hiện Điểm b, e, g, Khoản 2, Điều 18 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16); Nghị quyết số 59/2026/NQ-HĐND ngày 15-6-2026 quy định chính sách thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trên địa bàn thành phố Hà Nội (thực hiện Điểm b, Điểm e, Khoản 2, Điều 18 Luật Thủ đô số 02/2026/QH16)... Đây là những chính sách được kỳ vọng sẽ giúp Hà Nội tiếp cận, làm chủ và ứng dụng nhanh các công nghệ mới vào thực tiễn phát triển.
Việc HĐND thành phố Hà Nội ban hành hàng loạt nghị quyết cho thấy, thành phố đang từng bước hoàn thiện khung chính sách đồng bộ cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bao quát toàn bộ quá trình từ nghiên cứu, thử nghiệm, đầu tư hạ tầng đến khởi nghiệp, chuyển đổi số và huy động các nguồn lực tài chính.
Với những cơ chế cụ thể đó, mục tiêu đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực tăng trưởng mới có thêm nền tảng để được hiện thực hóa. Qua đó, góp phần đưa những định hướng của Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào thực tiễn phát triển của Thủ đô, tạo nền tảng cho phát triển lực lượng sản xuất mới, hiện đại và đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của Hà Nội.
Chuyển đổi số thực chất, ngay từ cơ sở
Từ chủ trương và chính sách, yêu cầu quan trọng là đưa chuyển đổi số đi vào thực chất, bắt đầu từ chính năng lực của đội ngũ cán bộ và khả năng tiếp cận công nghệ của người dân. Tại phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND phường Hà Anh Tuấn cho biết, để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, phường triển khai tập huấn theo Khung năng lực số của thành phố, gắn với từng vị trí việc làm, tập trung vào quản lý nhiệm vụ, dữ liệu, bảo mật thông tin, sử dụng các công cụ văn phòng số, họp trực tuyến và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Cùng với đó, phường chú trọng đưa chuyển đổi số đến khu dân cư và hoạt động kinh doanh nhằm từng bước đổi mới phương thức kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân, du khách và các hộ kinh doanh, hướng tới giao dịch nhanh chóng, an toàn, minh bạch. Trong đợt cao điểm 100 ngày về chuyển đổi số, phường triển khai các tuyến phố, cụm điểm kinh doanh không dùng tiền mặt; phối hợp với ngân hàng và doanh nghiệp viễn thông, công nghệ hỗ trợ hộ kinh doanh tạo mã QR, mở tài khoản, tiếp cận phương thức thanh toán số.
Tại phường Kim Liên, chuyển đổi số được gắn với phát triển kinh tế số và xây dựng chính quyền phục vụ. Phường đã hoàn thành 100% trong số 34 tiêu chí thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW được giao; đồng thời ra mắt “Cộng đồng Chợ số Kim Liên 24/7”. Mô hình tạo kênh kết nối giữa doanh nghiệp, hộ kinh doanh với người tiêu dùng, giúp quảng bá sản phẩm, mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng và từng bước hình thành phương thức kinh doanh, tiêu dùng trên môi trường số.
Chủ tịch UBND phường Kim Liên Lê Thị Kim Huệ cho rằng, “Chợ số” không chỉ là công cụ hỗ trợ kinh doanh mà còn là bước chuyển từ phương thức kinh doanh truyền thống sang kinh tế số, từ những kết nối đơn lẻ tới liên kết cộng đồng. Trên nền tảng này, phường tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ trong quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh tiếp cận nền tảng số, thương mại điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt.
Với phường Khương Đình, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ từ hạ tầng đến ứng dụng. Phường đã xây dựng kế hoạch phát triển hạ tầng số giai đoạn 2026-2030, duy trì 78 tổ chuyển đổi số cộng đồng; 100% cán bộ, công chức được trang bị chữ ký số và 100% văn bản đi - đến, trừ văn bản mật, được xử lý trên môi trường số. Các nền tảng số được khai thác trong tiếp nhận, xử lý phản ánh, giải quyết thủ tục hành chính; đồng thời triển khai các mô hình như phòng họp trực tuyến tại tổ dân phố, số hóa dữ liệu, bảo tồn số di tích và lớp học thông minh.
Từ những cách làm cụ thể, chuyển đổi số tại các địa phương đang từng bước đi vào chiều sâu, gắn với yêu cầu quản lý và những nhu cầu thiết thực của người dân. Đây cũng là cơ sở để hình thành chính quyền số, thúc đẩy kinh tế số, xã hội số, tạo chuyển biến rõ nét từ địa bàn dân cư.