Điểm đến

Để “ngôi nhà chung” 54 dân tộc luôn giàu sức sống

Minh Phương 13/09/2026 12:30

Cách trung tâm Hà Nội hơn 40km, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội) sở hữu nguồn tài nguyên đặc biệt với không gian văn hóa của 54 dân tộc cùng sự hiện diện của nghệ nhân, đồng bào trực tiếp thực hành di sản.

Để “ngôi nhà chung” thực sự trở thành điểm đến du lịch văn hóa hàng đầu của Thủ đô, Hà Nội đang nỗ lực làm cho di sản “sống” mỗi ngày.

13-dulich.jpg
Độc đáo nghi lễ cầu mùa của dân tộc Nùng đến từ Cao Bằng. Ảnh: Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Giàu tài nguyên nhưng chưa đủ sức hút

Nằm bên hồ Đồng Mô, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam có quy mô khoảng 1.544ha, gồm 7 khu chức năng. “Trái tim” của Làng là không gian cư trú, kiến trúc, tín ngưỡng và đời sống văn hóa của 54 dân tộc được bố trí trong 4 cụm làng.

Theo Giám đốc Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam Ngô Thị Hồng Thắm, lợi thế khác biệt của Làng không chỉ nằm ở hệ thống công trình mà ở sự hội tụ của nhiều lớp tài nguyên, từ lễ hội, nghệ thuật trình diễn, trang phục, nghề thủ công, ẩm thực đến tri thức bản địa. Đặc biệt, Làng hiện có 16 nhóm cộng đồng dân tộc sinh sống, hoạt động thường xuyên theo hình thức luân phiên. Hằng năm, Làng đón hơn 70 lượt cộng đồng dân tộc, hơn 1.000 đồng bào và khoảng 200 nghệ nhân tham gia hoạt động; tổ chức gần 80 chương trình, sự kiện, tái hiện trên 20 lễ hội truyền thống. Lượng du khách bình quân đạt khoảng 600.000 lượt/năm.

Những con số này cho thấy một nguồn tài nguyên lớn, nhưng dưới góc nhìn của các doanh nghiệp trực tiếp đưa du khách đến, sức hấp dẫn của Làng trước đây vẫn chưa như mong muốn. Phó Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist Trần Hữu Bình cho rằng: “Điểm hạn chế là các yếu tố từ những chất liệu rất gần gũi như nghề thủ công, món ăn, vật liệu dân gian hay câu chuyện bản địa chưa thực sự được kết nối thành chuỗi trải nghiệm, trong khi cơ quan quản lý cần đóng vai trò “nhạc trưởng” để doanh nghiệp, cộng đồng và điểm đến cùng tham gia thay vì mỗi bên làm một phần riêng lẻ”.

Một vấn đề khác là cách tổ chức sản phẩm. Giám đốc Mai Viet Travel Dương Xuân Tráng, đơn vị có khoảng 30 năm khai thác tour cho khách quốc tế, nhận xét: “Nếu một ngày đưa du khách đi qua 5 - 6 không gian dân tộc, lượng thông tin quá nhiều sẽ khiến trải nghiệm trở nên hời hợt. Với khách trải nghiệm văn hóa, nhất là du khách quốc tế, cần có thời gian để cảm nhận. Họ phải thấm - ngấm và phải ở cùng bà con. Ưu thế lớn của Làng chính là có “con người thật, việc thật”, điều một không gian trưng bày đơn thuần không có được”.

Ngay những khâu tưởng nhỏ trong hành trình cũng đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện. Ủy viên Ban Chấp hành Câu lạc bộ UNESCO Hà Nội Trịnh Ngọc Anh chia sẻ: “Trước đây khi tới Làng, chúng tôi không biết mình đang đứng ở đâu và phải đi tiếp hành trình như thế nào. Với một điểm đến rộng, khách lẻ cần sơ đồ, hệ thống chỉ dẫn và lịch hoạt động rõ ràng. Việc tiếp nhận đặt đoàn, vé, dịch vụ cũng cần được số hóa và kết nối thống nhất hơn bởi nhu cầu của khách đoàn, khách lẻ, khách trong nước và khách quốc tế không giống nhau”.

Tất cả những điều đó đặt ra cho Hà Nội yêu cầu phải tháo gỡ ngay các điểm nghẽn nếu muốn tăng giá trị điểm đến thay vì chỉ tăng số lượng khách.

Để di sản “sống” cùng du lịch

Từ ngày 1-7-2026, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được chuyển giao về thành phố Hà Nội quản lý, mở ra cơ hội kết nối mạnh hơn với hệ sinh thái văn hóa, du lịch và công nghiệp sáng tạo của Thủ đô.

Giám đốc Làng Ngô Thị Hồng Thắm cho biết, từ lợi thế đó, Làng đang từng bước hình thành các sản phẩm cụ thể, có khả năng khai thác và bán trên thị trường. Làng đã triển khai hai sản phẩm trải nghiệm trọn gói “Dấu chân bản làng” và “Về với đại ngàn Tây Nguyên”, dành cho học sinh, sinh viên nhóm từ vài chục khách đến hàng trăm người. Các chương trình được thiết kế theo hướng tăng tính tương tác, khám phá không gian văn hóa, trải nghiệm tại các trạm, chặng văn hóa theo chủ đề và hoạt động team building gắn kết; bước đầu đã nhận được sự quan tâm và phối hợp khai thác của các trường học, doanh nghiệp lữ hành.

Bên cạnh đó, mới đây nhất, dịp 2-9 vừa qua, Làng đã đưa vào khai thác sản phẩm “Nhịp sống bản làng” 2 ngày 1 đêm, hướng tới khách gia đình và các nhóm, đoàn khách người lớn. Sản phẩm kết hợp nghỉ dưỡng và trải nghiệm văn hóa dân tộc, mặc trang phục dân tộc, đạp xe hoặc xe đạp điện công nghệ khám phá không gian Làng, ngâm chân thư giãn, nghỉ dưỡng tại Trại sáng tác, thưởng thức ẩm thực và đặc biệt là trải nghiệm văn hóa buổi tối tại bản. Qua đó, tạo nên một hành trình trọn vẹn, kéo dài thời gian lưu trú và mang đến những trải nghiệm sâu sắc hơn cho du khách.

“Chúng tôi tiếp tục hoàn thiện, đóng gói sản phẩm “Em yêu Việt Nam”; tổ chức định kỳ hằng tuần show thực cảnh “Vườn tượng kể chuyện” góp phần đa dạng hóa sản phẩm và tạo thêm điểm nhấn trải nghiệm cho du khách” - Ngô Thị Hồng cho hay.

Theo Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hà Nội Trần Trung Hiếu, Hà Nội định hướng lấy bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làm nền tảng; du lịch làm động lực; công nghiệp văn hóa và sáng tạo làm hướng đột phá. Mục tiêu đến năm 2030, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam dự kiến đón khoảng 1 - 1,2 triệu lượt du khách, trong đó khách quốc tế chiếm khoảng 5%. Quá trình phát triển Làng phải theo hướng “xanh, thông minh, hiện đại và bền vững”, với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, qua đó, từng bước hình thành một không gian gắn kết bảo tồn, thực hành văn hóa, du lịch, công nghiệp văn hóa và kinh tế xanh.

Từ khoảng 600.000 lượt khách hiện nay đến mục tiêu 1 - 1,2 triệu lượt du khách vào năm 2030 là một chặng đường không ngắn và Hà Nội đang nỗ lực từng bước để hiện thực hóa mục tiêu đó. Khi những nếp nhà có người sống, nghề truyền thống có người làm, câu chuyện văn hóa được chính chủ thể kể, đồng thời những giá trị ấy được chuyển hóa thành sản phẩm, sinh kế và nguồn thu, di sản sẽ không chỉ được lưu giữ mà thực sự “sống” cùng du lịch.