Giáo dục

Hà Nội hỗ trợ đào tạo 100 tiến sĩ: Gắn với giải quyết những bài toán lớn của Thủ đô

Điệp Quyên thực hiện 10/09/2026 - 09:58

Hà Nội dự kiến hỗ trợ 100 nghiên cứu sinh trong năm 2026 học tập tại các cơ sở đào tạo trong nước, với đề tài nghiên cứu hướng đến giải quyết những bài toán lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố.

Cơ quan Báo và Phát thanh, truyền hình Hà Nội trao đổi với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng về những điểm mới, đột phá của chính sách.

pgs-an.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội. Ảnh: NVCC

Đặt bài toán thực tiễn cho đào tạo tiến sĩ

- Thưa Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thị An, Hà Nội dự kiến hỗ trợ 100 nghiên cứu sinh trong năm 2026 theo học tại các cơ sở đào tạo trong nước. Điểm đáng chú ý là thành phố định hướng đề tài luận án phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, hướng tới giải quyết những bài toán lớn của Hà Nội. Bà đánh giá như thế nào về cách tiếp cận này?

- Tôi đánh giá rất cao chủ trương này. Điểm cốt lõi là các đề tài nghiên cứu không chỉ dừng ở phạm vi học thuật mà phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của Hà Nội. Nghiên cứu sinh, tiến sĩ cần hướng tới những sản phẩm có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc phục vụ trực tiếp việc hoạch định chính sách, quản trị và phát triển thành phố.

Đây là sự thay đổi tư duy rất cần thiết. Đào tạo tiến sĩ không phải để tăng số lượng người có bằng cấp, mà quan trọng hơn là hình thành năng lực khoa học có khả năng phát hiện, phân tích và giải quyết những vấn đề mà thành phố đang đặt ra.

Vì vậy, khi lựa chọn đề tài, nghiên cứu sinh cần cân nhắc đồng thời ba yếu tố: Năng lực, sự đam mê của bản thân và yêu cầu thực tiễn của Hà Nội. Không nên có tâm lý chọn một đề tài chỉ để đủ điều kiện nhận hỗ trợ. Nếu nghiên cứu không xuất phát từ năng lực và sự say mê thực sự thì rất khó tạo ra một luận án có chất lượng và càng khó tạo ra sản phẩm có giá trị cho xã hội.

Tôi cho rằng, đây cũng là cơ hội để các nhà khoa học trẻ nhìn rộng hơn về trách nhiệm xã hội của hoạt động nghiên cứu. Một luận án tốt không chỉ được đánh giá bằng số bài báo hay kết quả bảo vệ, mà còn cần trả lời được câu hỏi: Kết quả nghiên cứu có thể đóng góp gì cho thực tiễn?

nc1.jpeg
Chính sách của thành phố là cơ hội để các nhà khoa học trẻ nhìn rộng hơn về trách nhiệm xã hội của hoạt động nghiên cứu. Ảnh: VNU

- Từ yêu cầu đó, có ý kiến cho rằng chính sách nên ưu tiên nghiên cứu ứng dụng, trong khi khoa học cơ bản cũng rất cần thiết cho sự phát triển lâu dài. Theo bà, Hà Nội nên xác định trọng tâm như thế nào để vừa giải quyết vấn đề trước mắt, vừa tạo nền tảng tri thức cho tương lai?

- Tôi cho rằng cần có một cách nhìn bao trùm. Hà Nội cần cả khoa học cơ bản để tạo ra tri thức mới, nghiên cứu ứng dụng để giải quyết những bài toán lớn và nghiên cứu triển khai để đưa kết quả vào thực tế.

Khi định hướng và giao đề tài, cần có sự hướng dẫn để bao quát các lĩnh vực này, không nên vì mục tiêu trước mắt mà lái nghiên cứu sinh vào một hướng nghiên cứu duy nhất. Quan trọng nhất là xác định được những “điểm nghẽn” của thành phố và khuyến khích các nhà khoa học tìm ra giải pháp bằng năng lực chuyên môn của mình.

Theo tôi, thành phố có thể đặt ra bài toán, xác định nhu cầu và những lĩnh vực ưu tiên, nhưng không nên áp đặt trước kết quả nghiên cứu. Cách làm phù hợp là để nghiên cứu sinh và người hướng dẫn khoa học chủ động đề xuất phương thức giải quyết dựa trên năng lực độc lập, tính mới, tính khoa học và tính khả thi của đề tài.

Không để lãng phí nguồn lực sau đào tạo

- Chính sách đã đặt ra yêu cầu kết quả nghiên cứu phải có khả năng ứng dụng, chuyển giao hoặc làm cơ sở hoạch định chính sách, đồng thời khuyến khích kết nối với các sở, ban, ngành, doanh nghiệp, đơn vị có nhu cầu sử dụng kết quả. Theo bà, cần làm gì để sự kết nối này tạo thành một chuỗi từ nghiên cứu đến ứng dụng?

nc2.jpg
Chính sách khuyến khích nghiên cứu sinh, người hướng dẫn kết nối với các sở, ban, ngành, doanh nghiệp và đơn vị có nhu cầu. Ảnh: VNU

- Đây là vấn đề tôi đặc biệt quan tâm. Phải coi nghiên cứu sinh là một nguồn lực khoa học của thành phố. Để nguồn lực đó không bị lãng phí, tôi cho rằng cần xây dựng một chuỗi tương đối khép kín, gồm: Tuyển chọn - đào tạo - nghiên cứu, thử nghiệm - ứng dụng, chuyển giao - đặt hàng, sử dụng nguồn nhân lực và tiếp tục phát triển.

Nếu dừng lại ở khâu đào tạo, chính sách sẽ chưa đạt được mục tiêu. Thành phố cần tính toán, sau khi nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình, kết quả nghiên cứu được sử dụng ở đâu; cơ quan, tổ chức hay doanh nghiệp nào có thể tiếp nhận, thử nghiệm và triển khai? Những vấn đề này cần được tính đến ngay trong quá trình xây dựng đề tài.

Điều quan trọng là phải tạo được sự liên thông giữa cơ quan quản lý - cơ sở đào tạo - nhà khoa học - doanh nghiệp và đơn vị sử dụng kết quả nghiên cứu. Khi nhà khoa học được tiếp cận bài toán thực tế, có nơi kiểm chứng kết quả và có đối tác đồng hành, khả năng nghiên cứu đi vào cuộc sống sẽ cao hơn.

Khi đó, việc thành phố hỗ trợ đào tạo 100 nghiên cứu sinh không chỉ là một chính sách về giáo dục mà còn có thể trở thành một chính sách đầu tư cho nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ của Thủ đô.

- Một yếu tố khác quyết định chất lượng đào tạo tiến sĩ là người hướng dẫn. Thành phố có thể đặt ra bài toán, nhưng chất lượng nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào năng lực của nghiên cứu sinh và người hướng dẫn. Quan điểm của bà về vấn đề này như thế nào?

- Theo tôi, chất lượng của người thầy có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của nghiên cứu sinh. Đội ngũ hướng dẫn phải có năng lực, trình độ và trách nhiệm khoa học thực chất; không thể coi đây là công việc làm cho đủ thủ tục.

Thành phố đặt ra bài toán, nhưng phương thức giải quyết phải để nghiên cứu sinh và nhà khoa học chủ động đề xuất trên cơ sở năng lực chuyên môn và tư duy độc lập. Lãnh đạo cũng không nên áp đặt theo kiểu định sẵn kết quả phải đạt được hoặc gò nghiên cứu vào một khuôn mẫu cứng nhắc. Chính sự tự do học thuật có trách nhiệm mới có thể tạo ra những giải pháp mới, thiết thực và chất lượng.

- Từ những yêu cầu đó, bà kỳ vọng chính sách hỗ trợ 100 nghiên cứu sinh sẽ tạo ra thay đổi gì đối với cách nhìn về đào tạo tiến sĩ của Hà Nội?

- Kỳ vọng lớn nhất của tôi cũng như của người dân Thủ đô là sự thực chất. Chúng ta phải thay đổi tận gốc tư duy: Từ đào tạo để có bằng cấp sang đào tạo để giải quyết vấn đề của Hà Nội.

Đừng lấy số lượng tiến sĩ làm thước đo chất lượng của một cơ quan hay một địa phương. 100, 1.000 hay 2.000 tiến sĩ không quan trọng bằng việc những người được đào tạo có đủ năng lực giải quyết hiệu quả những vấn đề thành phố đang đặt ra hay không.

Nếu làm tốt, chính sách này không chỉ tạo ra thêm một đội ngũ có trình độ tiến sĩ mà còn hình thành một lực lượng nghiên cứu có khả năng đồng hành với thành phố trong quá trình phát triển. Mục tiêu cuối cùng phải là năng lực thực tế để xử lý hiệu quả các bài toán của Thủ đô, không chạy theo bằng cấp hay số lượng hình thức.

- Xin trân trọng cảm ơn bà!

Theo hướng dẫn sơ bộ của Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội, chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh được triển khai thực hiện Nghị quyết số 57/2026/NQ-HĐND ngày 15-6-2026 của HĐND thành phố và Kế hoạch số 276/KH-UBND ngày 14-7-2026 của UBND thành phố.

Sở Khoa học và Công nghệ đề nghị các cơ sở đào tạo rà soát nghiên cứu sinh có khả năng đáp ứng điều kiện, đồng thời định hướng đề tài phù hợp với Danh mục bài toán lớn của thành phố theo Quyết định số 1193/QĐ-UBND ngày 18-3-2026 và các định hướng ưu tiên được cơ quan có thẩm quyền công bố. Thời gian tiếp nhận hồ sơ dự kiến trong tháng 10-2026.