Từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
Chiều 9-9, Cục Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ (PCCC và CNCH) – Bộ Công an tổ chức toạ đàm quốc tế với chủ đề “Phát triển công nghiệp PCCC và CNCH góp phần phát triển công nghiệp an ninh, phục vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân”. Toạ đàm vinh dự đón 10 diễn giả, trong đó có 5 diễn giả đến từ các cơ quan quản lý, tổ chức, tập đoàn quốc tế các nước Cộng hòa Áo, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Vương quốc Anh.

Phát biểu đề dẫn, Thiếu tướng Dương Đức Hải, Cục trưởng Cục Cảnh sát PCCC và CNCH nhấn mạnh, hiện đại hóa công tác PCCC và CNCH không thể tách rời sự phát triển của khoa học, công nghệ và năng lực công nghiệp trong lĩnh vực này. Nếu chỉ dừng ở mua sắm, trang bị và sử dụng sản phẩm có sẵn thì khó tạo được năng lực phát triển bền vững. Quan trọng hơn là phải từng bước nâng cao khả năng lựa chọn, vận hành, bảo đảm kỹ thuật, tích hợp, cải tiến, thử nghiệm, tiêu chuẩn hóa và cao hơn nữa là nghiên cứu, thiết kế, sản xuất những sản phẩm phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
Trong thời gian qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận: một số phương tiện, sản phẩm PCCC và CNCH đã được nghiên cứu, chế tạo, sản xuất trong nước. Nhiều công nghệ mới đã được trang bị, thử nghiệm và đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng năng lực công nghiệp PCCC và CNCH trong nước còn những hạn chế. Xuất phát từ nhu cầu rất lớn của thực tiễn, nếu tổ chức tốt mở rộng hợp tác quốc tế, hoàn toàn có thể từng bước hình thành một hệ sinh thái công nghiệp PCCC và CNCH có năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất, ứng dụng và cải tiến công nghệ.

“Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực PCCC và CNCH không nên chỉ dừng ở mua bán phương tiện, thiết bị. Điều Việt Nam cần hướng tới là những hình thức hợp tác sâu hơn: tiếp cận công nghệ mới; trao đổi tiêu chuẩn và phương pháp thử; nghiên cứu chung; đào tạo chuyên gia; thử nghiệm công nghệ trong điều kiện thực tế; chuyển giao kỹ thuật; nâng cao khả năng bảo trì, cải tiến và phát triển sản phẩm trong nước. Đây là quá trình hai chiều: qua hợp tác, các đối tác quốc tế cũng có điều kiện hiểu rõ hơn nhu cầu, đặc điểm và điều kiện thực tế của Việt Nam để cùng xác định những lĩnh vực hợp tác có tính khả thi và lâu dài”, Thiếu tướng Dương Đức Hải nhấn mạnh.

Trước thực tiễn công tác PCCC và CNCH đang thay đổi rất nhanh. Đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự phát triển của khoa học, công nghệ làm xuất hiện nhiều nguy cơ cháy, nổ mới, phức tạp hơn: phương tiện điện, pin lithium, hệ thống lưu trữ năng lượng, trung tâm dữ liệu, công trình cao tầng, công trình ngầm và đô thị thông minh. Ở chiều ngược lại, phương tiện, thiết bị và giải pháp PCCC cũng tích hợp ngày càng sâu công nghệ số, kết nối và tự động hóa; công nghệ đang tạo ra những khả năng mà trước đây chưa có. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, robot, thiết bị bay không người lái, camera nhiệt, cảm biến, cơ sở dữ liệu, nền tảng điện toán đám mây và công nghệ mô phỏng đang từng bước được nghiên cứu, ứng dụng trong phát hiện nguy cơ, cảnh báo sớm, trinh sát hiện trường, tìm kiếm người bị nạn, chữa cháy và hỗ trợ chỉ huy, điều hành.
Thực tiễn ở Việt Nam cũng cho thấy rõ áp lực này. Năm 2025 và 8 tháng năm 2026, Việt Nam xảy ra 5.307 vụ cháy, nổ, làm 164 người chết, 208 người bị thương, thiệt hại về tài sản hơn 1.400 tỷ đồng; lực lượng Cảnh sát PCCC đã tổ chức 2.378 lượt cứu nạn, cứu hộ, cứu được 4.065 người.
Từ những nội dung trên, trong suốt buổi chiều diễn ra tọa đàm, đại diện các đơn vị và đối tác quốc tế trong lĩnh vực PCCC đã cùng nhau trao đổi về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ mới và các giải pháp kỹ thuật trong PCCC, CNCH.
Các nội dung về chuyển đổi số, dữ liệu và nền tảng số trong công tác PCCC, CNCH cũng được đưa ra thảo luận, cùng với vấn đề phát triển công nghiệp PCCC, CNCH gắn với phát triển công nghiệp an ninh. Những vấn đề trên không chỉ được tiếp cận từ góc nhìn của Việt Nam mà còn được đối chiếu với kinh nghiệm và thông lệ quốc tế.

Tọa đàm thống nhất tập trung trao đổi sâu 3 nhóm nội dung lớn. Thứ nhất, về công nghệ, phương tiện và thiết bị PCCC, CNCH thế hệ mới đã làm rõ: đâu là những công nghệ phù hợp với điều kiện hạ tầng, đô thị và năng lực vận hành của Việt Nam; cần điều kiện gì để tiếp nhận và làm chủ các công nghệ đó?
Thứ hai, về chuyển đổi số, dữ liệu và PCCC thông minh cần làm rõ cả về về nền tảng, phần mềm, thiết bị thông minh và dữ liệu. Làm thế nào hình thành dữ liệu chuyên ngành có chất lượng, kết nối dữ liệu giữa các hệ thống;
Thứ ba, về phát triển công nghiệp PCCC và CNCH trong tổng thể công nghiệp an ninh đã sáng tỏ cơ chế phối hợp giữa nhà quản lý - nhà nghiên cứu - nhà sản xuất nên được tổ chức ra sao. Hệ thống tiêu chuẩn, thử nghiệm, chứng nhận của Việt Nam cần hoàn thiện và hài hòa với các hệ thống quốc tế đến đâu… Tập trung đưa ra giải pháp hữu hiệu từng bước hình thành một hệ sinh thái công nghiệp PCCC và CNCH trong tương lai.