Đầu tư

FDI khả quan, chuyển hóa dòng vốn thành động lực lan tỏa

Trâm Anh 09/09/2026 - 12:51

Tình hình thu hút và thực hiện vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026 tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng khả quan và đạt đỉnh cao nhất trong vòng 5 năm qua. Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới mục tiêu FDI đăng ký 40 - 50 tỷ USD mỗi năm và vốn thực hiện 30 - 40 tỷ USD/năm trong giai đoạn tới.

FDI tăng cả lượng và chất

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam 8 tháng 2026 ghi nhận sự bứt phá mạnh khi vượt mốc 40 tỷ USD. Trong đó, vốn đăng ký cấp mới đạt 21,72 tỷ USD với 2.771 dự án được cấp phép. Đáng chú ý, số lượng dự án chỉ tăng 9,4%, nhưng quy mô vốn tăng mạnh 96,8% so với cùng kỳ, cho thấy quy mô trung bình của các dự án cấp mới đã gia tăng đáng kể. Điều này cho thấy các nhà đầu tư đã sẵn sàng rót vốn ngay từ giai đoạn đầu.

Dòng vốn FDI thế hệ mới được kỳ vọng không chỉ gia tăng quy mô đầu tư mà còn tạo sức lan tỏa về công nghệ, nhân lực và chuỗi cung ứng, qua đó nâng cao nội lực của nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh hoạ: PV
Dòng vốn FDI thế hệ mới được kỳ vọng không chỉ gia tăng quy mô đầu tư mà còn tạo sức lan tỏa về công nghệ, nhân lực và chuỗi cung ứng, qua đó nâng cao nội lực của nền kinh tế Việt Nam. Ảnh minh hoạ: PV

Đặc biệt, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam trong 8 tháng đã ước đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2025. Đây là con số giải ngân cao nhất của kỳ 8 tháng trong suốt 5 năm qua.

Trong số 17,25 tỷ USD đã được đưa vào nền kinh tế, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vị thế tuyệt đối với 14,24 tỷ USD (chiếm 82,6%). Đáng chú ý, dòng vốn M&A không chảy mạnh vào bất động sản như trước đây mà đang hướng tới những lĩnh vực mang hàm lượng chất xám cao và thị trường tiêu dùng nội địa. Cụ thể, các hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ dẫn đầu với 2,74 tỷ USD (chiếm 40,9%), tiếp theo là mảng bán buôn, bán lẻ và sửa chữa xe cơ giới đạt 2,01 tỷ USD (chiếm 30%).

Việt Nam đang hướng tới những dự án FDI có khả năng tạo giá trị cao hơn, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và kết nối với doanh nghiệp trong nước. Các tập đoàn và nhà đầu tư FDI công nghệ cao, chiến lược như Samsung Electronics với các khu phức hợp sản xuất và trung tâm R&D quy mô tỷ đô tại Bắc Ninh, Thái Nguyên và Hà Nội; LG Group đầu tư mạnh vào Hải Phòng cho các dự án sản xuất thiết bị điện tử, linh kiện và màn hình công nghệ cao; Intel & Amkor, "ông lớn" trong lĩnh vực lắp ráp, kiểm định bán dẫn đặt nhà máy công nghệ tiên tiến; Foxconn, Luxshare, Pegatron, các tập đoàn gia công điện tử lớn toàn cầu đang mở rộng chuỗi cung ứng thiết bị công nghệ và linh kiện tại các tỉnh phía Bắc…

Ông II-Dong Kwon, Giám đốc điều hành BCG Vietnam cho rằng: Đây là bước chuyển cần thiết để nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa vào chi phí, tiến tới dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo. Trong khu vực, Việt Nam có một số lợi thế như dân số trẻ, mức độ tham gia đa dạng vào các chuỗi giá trị toàn cầu, lực lượng lao động có tính kỷ luật và tốc độ cải cách thể chế nhanh.

TS Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cho rằng: Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hướng tới mục tiêu FDI đăng ký 40 - 50 tỷ USD mỗi năm và vốn thực hiện 30 - 40 tỷ USD/năm trong giai đoạn tới. Nghị quyết số 10-NQ/TW tạo định hướng mới trong thu hút đầu tư nước ngoài, với trọng tâm là các dự án xanh, công nghệ cao, có giá trị gia tăng, chuyển giao công nghệ và tạo sức lan tỏa cho doanh nghiệp Việt Nam. Các dự án có công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu được ưu tiên. Đồng thời, Việt Nam đổi mới chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng gắn với kết quả và hiệu quả thực tế, đưa chính sách ưu đãi thực sự trở thành công cụ khuyến khích những dự án có chất lượng.

Sớm triển khai đồng bộ nhóm giải pháp tại Nghị quyết 10-NQ/TW

Theo ông II-Dong Kwon, Việt Nam có nền tảng khá tốt trong lĩnh vực lắp ráp, đóng gói và kiểm thử chip bán dẫn, nhưng có thể từng bước tiến lên thiết kế chip và về dài hạn là sản xuất chip.

Nghị quyết 10-NQ/TW mở ra nhiều cơ hội quan trọng cho các doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Ảnh minh hoạ: PV
Nghị quyết 10-NQ/TW mở ra nhiều cơ hội quan trọng cho các doanh nghiệp FDI, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển bền vững. Ảnh minh hoạ: PV

Lĩnh vực AI cũng đang phát triển nhanh, với vốn đầu tư tăng 13 lần kể từ năm 2023, lên 130 triệu USD. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trung tâm dữ liệu, nhờ nền kinh tế số hiện đóng góp khoảng 14% GDP, nhưng lĩnh vực này đang đối mặt với hạn chế về nguồn điện ổn định và quỹ đất.

Trong khi đó, công nghệ sinh học vẫn ở giai đoạn đầu và có thể hưởng lợi từ việc tăng cường đầu tư vào R&D, hạ tầng, nguồn nhân lực và liên kết với khu vực doanh nghiệp.

Do đó, để thu hút nhiều hơn các dự án FDI chất lượng cao, Việt Nam cần tiếp tục bảo đảm nguồn điện ổn định, phát triển nhân lực kỹ thuật, nâng cao năng lực nhà cung ứng trong nước, cải thiện hạ tầng logistics, mở rộng quỹ đất công nghiệp và tăng cường hiệu quả thực thi chính sách.

Khi Việt Nam đặt mục tiêu tạo bứt phá cho khu vực kinh tế tư nhân thông qua Nghị quyết số 10-NQ/TW, các doanh nghiệp FDI cũng kỳ vọng vào một làn sóng cải cách mạnh mẽ, thúc đẩy đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Theo Ông Sven David, Tổng giám đốc Công ty tư vấn VIET Transformation Advisors, Nghị quyết 10 có thể áp dụng các cơ chế ưu đãi có chọn lọc, dựa trên kết quả đầu ra, gắn với các tiêu chí như chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung cấp trong nước, R&D và nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam.

Ông Sven David cho rằng: Nghị quyết 10 cũng có thể tiếp tục phát huy các chương trình hợp tác của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) với các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Nvidia, TSMC, Samsung, Qualcomm và ASML, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp bán dẫn quốc gia. Một ưu tiên là mở rộng các sáng kiến hiện có và củng cố năng lực trong nước, thay vì xây dựng thêm những chương trình có cùng mục tiêu.

Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu làm giảm vai trò của ưu đãi thuế, năng lực cạnh tranh sẽ ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực, hệ sinh thái nhà cung ứng và tính nhất quán của chính sách. Những lợi thế này cần được phát triển theo từng cụm ngành, nơi hạ tầng, nhân lực và hệ sinh thái hỗ trợ lẫn nhau. Nghị quyết số 10-NQ/TW định hình mô hình hợp tác dựa trên hiệu quả thực hiện, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp không chỉ về vốn, mà còn về công nghệ và năng lực quản trị; doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực hấp thụ; còn Nhà nước tạo dựng môi trường thể chế minh bạch, ổn định.