Khơi thông đầu ra cho đặc sản miền núi
Đặc sản miền núi phong phú, chất lượng nâng lên nhưng cần thêm sức cầu và kênh phân phối để tạo đầu ra ổn định.
Nhận diện thách thức
Nhờ nguồn nguyên liệu bản địa độc đáo, tri thức dân gian và phương thức sản xuất đặc trưng, nhiều đặc sản như na Lạng Sơn, miến dong Quảng Ninh, sâm Lai Châu hay sâm Ngọc Linh… đã định vị được thương hiệu và được người tiêu dùng ưa chuộng.
Tuy nhiên, Bộ Công Thương nhìn nhận, vấn đề lớn nhất hiện nay không phải là đưa sản phẩm tới các hội chợ hay điểm bán, mà là tạo ra doanh số ổn định, đơn hàng lặp lại và thiết lập quan hệ thương mại dài hạn.

Ảnh: Bảo Trung
Phân tích về thực trạng này, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho hay, sản phẩm xuất hiện tại nhiều chương trình xúc tiến chưa đồng nghĩa với việc đã có thị trường. Thước đo sức sống của sản phẩm nằm ở khả năng duy trì đơn hàng, đáp ứng yêu cầu của nhà phân phối và giữ chân người tiêu dùng.
Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đã xác định 5 thị trường trọng tâm, ưu tiên khai thác cho đặc sản vùng cao. Đó là hệ thống phân phối hiện đại tại các đô thị lớn, nơi có sức mua cao nhưng đòi hỏi nghiêm ngặt về chất lượng, bao bì và nguồn cung. Đó là thương mại điện tử và các nền tảng số đa kênh, giúp thu hẹp khoảng cách địa lý và truyền tải câu chuyện văn hóa bản địa qua dữ liệu xác thực. Thứ ba là thị trường gắn với du lịch văn hóa và trải nghiệm tại các điểm du lịch cộng đồng, sân bay, nhà hàng. Thứ tư là phân khúc quà tặng, tiêu dùng xanh, chăm sóc sức khỏe. Và cuối cùng là thị trường tại chỗ và thương mại hai chiều ở vùng miền núi, biên giới, vừa tiêu thụ nông sản địa phương, vừa đưa hàng Việt chất lượng cao đến với bà con.
“Không phải sản phẩm nào cũng cần bán đại trà hoặc vào siêu thị. Quan trọng là lựa chọn đúng phân khúc, đúng quy mô và đúng câu chuyện của sản phẩm”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Dù dư địa phát triển rất lớn, khoảng cách từ tiềm năng đến đơn hàng thường xuyên vẫn còn là thách thức lớn. Ông Lê Đức Hải, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng (Lạng Sơn) chia sẻ, mặc dù đơn vị đã tích cực tham gia các gian hàng số trên TikTok Shop, Zalo, Facebook nhưng đầu ra vẫn thiếu tính ổn định. Hợp tác xã gặp nhiều khó khăn trong việc kết nối với các chuỗi tiêu thụ lớn, thiếu khu vực tập kết, sơ chế và đóng gói tập trung, trong khi quả na tươi chỉ bảo quản được khoảng một tuần.
Đồng quan điểm, ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn (Văn phòng Điều phối trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, vấn đề nằm ở năng lực tổ chức và tư duy thị trường của các hợp tác xã. Nhiều đơn vị vẫn giữ thói quen "sản xuất rồi chờ người đến mua", thiếu kỹ năng quản trị, chưa chuẩn hóa quy cách đóng gói và chưa chủ động điều chỉnh sản phẩm theo phản hồi từ thị trường.
Đổi mới phương thức kết nối cung - cầu
Theo ông Đào Đức Huấn, các hợp tác xã và nhà sản xuất cần thay đổi toàn diện từ tư duy, kỹ thuật canh tác, tổ chức thành viên đến xây dựng thương hiệu, bảo quản sản phẩm và năng lực đối thoại với hệ thống thương mại.
Sản phẩm không chỉ giữ nét đặc trưng bản địa mà phải thích ứng linh hoạt với từng kênh phân phối. “Chẳng hạn sản phẩm phục vụ khách du lịch sẽ có yêu cầu khác hoàn toàn với sản phẩm đưa vào chuỗi siêu thị hay nền tảng thương mại điện tử”, ông Huấn nói.
Từ thực tế địa phương, ông Lê Minh Tuấn, Trưởng phòng Quản lý thương mại (Sở Công Thương tỉnh Lâm Đồng) cho biết, các đơn vị sản xuất vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương đang chủ động chuyển từ tiêu thụ truyền thống sang hoàn thiện nhãn mác, truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh thương mại điện tử. Tỉnh Lâm Đồng tập trung hỗ trợ các hợp tác xã, tổ hợp tác và mô hình khởi nghiệp phát triển sản phẩm OCOP, đồng thời đầu tư hạ tầng thương mại nông thôn để tạo lực đẩy tiêu thụ.

Thực hiện Nghị quyết số 88/NQ-CP về phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước dự kiến ưu tiên 6 nhóm giải pháp đối với sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đó là xây dựng cơ chế kết nối cung - cầu; phát huy vai trò nhà phân phối; hỗ trợ chuyển đổi số thiết thực; nâng chuẩn sản phẩm và niềm tin người tiêu dùng; tổ chức lại logistics theo vùng và đổi mới cách đánh giá hiệu quả chính sách.
Đáng chú ý, vấn đề kết nối cung - cầu chuyển theo hướng chọn lọc, chuẩn bị, thử nghiệm và theo dõi. Trước khi tổ chức kết nối, sản phẩm cần được sàng lọc theo yêu cầu của từng kênh. Cùng với đó, sản phẩm cần được nâng chuẩn về an toàn, nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và bao bì, nhưng vẫn giữ bản sắc riêng, tránh công nghiệp hóa máy móc.
Đặc biệt, logistics cần được tổ chức lại theo vùng, với các điểm gom, sơ chế, đóng gói, kho phù hợp, lịch vận chuyển chung và liên kết với mạng lưới bưu chính, logistics, bán lẻ. Mục tiêu là giảm chi phí trên từng đơn vị hàng hóa và tăng phần giá trị giữ lại cho người sản xuất.